Ads 468x60px

.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan




Nguyễn Công Hoan là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam.

Ông sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên,
mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội.


Các bạn có thể đọc tại đây (lấy trên Internet)
- Các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan,
- Các bài viết về Nguyễn Công Hoan.

Xem: Bách Khoa Toàn Thư
♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣


Video: Nhà văn Nguyễn Công Hoan (Thực hiện: Trí Dũng, Ngọc Oanh, Huy Hoàng, Thúy Lành, Thùy Trang, Tuấn Anh - Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên)

Featured Posts





Chủ Nhật, ngày 18 tháng 9 năm 2016

Nguyễn Công Hoan – Một tài năng, một nhân cách lớn


Nguyễn Công Hoan –
Một tài năng, một nhân cách lớn

Lê Thị Đức Hạnh


Ngay từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã là một cậu bé thông mình, hóm hỉnh, thích khôi hài, chế giễu mà cũng tinh nghịch, táo bạo. Được sống trong một gia đình quan lại, nho học, nề nếp, nhưng cậu bé Hoan vẫn bất chấp mình là con cháu nhà quan phải nghiêm chỉnh, mực thước, mà thích la cà, đùa tếu với bọn lính cơ, lính lệ trong huyện. Lớn hơn một chút cậu bắt chước cả Môlie để làm hài kịch. Từ những màn ngắn do "diễn viên cương ra những câu nói nhảm" phỏng theo truyện tiếu lâm để chế giễu bọn thày bói, thày cúng, đến hài kịch lấy đề tài từ những thói hư, tật xấu của những người xung quanh để nhạo báng.

Nguyễn Công Hoan hào hứng soạn kịch và diễn kịch

Hết chuyện gần đến chuyện xa, tất cả đều do mọi người kể cho nghe. Tiếng tăm của "Đoàn kịch" lan truyền. Thế là lính tráng và nhũng người ngoài phố kéo vào nhà học để xem các cậu diễn trò. Cho đến một tối kia, Nguyển Công Hoan đang đường bệ với vai vua thì người bác xuất hiện. Vua sợ run bắn, nhưng không dám chạy, cứ đứng như trời trồng, khán giả thì hoảng hồn chạy toán loạn. Từ đó, đoàn kịch giải tán và cái chính là vì hết hè, Nguyễn Công Hoan phải lên Hà Nội học tiếp. Tiếng là đi học, nhưng Nguyễn Công Hoan để thời gian học ngoài đời nhiều hơn học trong sách vở.

Vốn thông mình nên chỉ nghe giảng trong lóp đã gần thuộc, nếu bài mà phải đọc, bài khó thì trên đường đến trường, Nguyễn Công Hoan nhẩm đọc, còn bài dễ thì nghe vài người đọc trước cũng đủ thuộc. Nhưng bệnh lười và liều lĩnh có khi cũng bị lật tẩy. Một lần, phải làm bài văn "Tả một đêm trăng trên hồ Tây", Nguyễn Công Hoan liền mở Đông dương tạp chí chép nguyên xi "Đêm trăng thú chơi thuyền trên hồ Tây" của Phan Kế Bính đến câu "mấy đóa hoa nở muộn mà lá vẫn còn xanh tốt" cậu học sinh không hiểu "nỏ muộn" là gì cứ viết đúng như thế. Đến khi chấm bài, cụ giáo nhẹ nhàng bảo: "Đây là chữ muộn chứ không phải muộm, nhà in xếp sai đấy, anh không đoán ra à?" Cậu học trò Hoan mới tái mặt.

Ngay khi đã học trưòng Nam sư phạm, chuẩn bị để ra làm một ông thầy mà Nguyễn Công Hoan vẫn không bỏ được lối học quấy quá. Như có lần đầu bài luận quốc văn là: "Ở đời anh có hy vọng gì?" Tất cả lớp, ai cũng làm những bài rất dài, duy có Nguyễn Công Hoan chỉ viết có mỗi một câu ngắn ngủn "Ở đời, tôi không có hy vọng gì cả" rồi đem nộp (Dựa theo Đời viết văn của tôi tr. 49 và 90) Ai mà đoán biết được rằng chính người thanh niên bạt mạng, chỉ làm bài văn có một câu lại đang mang trong mình đầy triển vọng văn chương và về sau có một tường lai rực rỡ, sáng ngời?

Vốn ham mê học trong cuốn sách cuộc đời, khi trưởng thành, đi dạy học lại phải thuyên chuyển hết nơi này đến nơi khác. Đối với mọi người thì đó là điều ngại, nhưng với Nguyễn Công Hoan thì lại như được thượng đế ban cho một ân huệ, có một cơ hội tốt để tích lũy vốn sống về nhiều mặt, nhất là những mặt xấu xa "đáng khôi hài" của xã hội đương thời mà một nhà giáo bình thường không dễ gì có được. Nghề dạy học vốn là một nghề lương thiện, hiền lành không làm hại ai, mà chỉ giáo dục cho thế hệ trẻ những điều hay, lẽ phải, những kiến thức cần thiết cho cuộc sống.

Nhà giáo nói chung thường được mọi người gần gũi, quý mến. Nguyễn Công Hoan lại là người giàu lòng nhân ái nên càng được phụ huynh học sinh tin yêu, cởi mở, dốc bầu tâm sự. Không những thế, nhiều bạn đọc xa gần biết tiếng Nguyễn Công Hoan, người thường viết về những nỗi đau của cuộc đời, những ngang trái bất công của xã hội nên những kẻ xấu xa, tồi tệ thì sợ khiếp vía kinh hồn, còn những người bị nhiều nỗi oan khiên, cay đắng thì lại tìm đến ông để bộc lộ, than thở, mong được ngòi bút nhà văn trút hộ họ những nỗi phẫn uất lên trang giấy.

Tâm trạng đau buồn, cay đắng của người phụ nữ trẻ đẹp Vũ Thị Trúc (chị họ Vũ Lạng), rồi cuộc đời "tự tử mà không chết được" của người bạn đọc ở Yên Mô, Ninh Bình là những kỷ niệm sâu sắc, xúc động trong đời viết văn của Nguyễn Công Hoan. Sống trong xã hội thực dân phong kiến nhan nhản những sự áp bức, bất công, những nỗi ai oán, đau lòng, những điều xấu xa, bỉ ổi thì một người có trực quan sắc bén, có tấm lòng trung thực, có lương tâm trong sạch như Nguyễn Công Hoan không thể không cảm thấy bực bội, ấm ức trong lòng.

Để giải tỏa những nỗi niềm ấy, không có cách nào khác hơn là viết văn châm biếm, đả kích chĩa mũi nhọn vào những kẻ gây ra những điều tàn nhẫn, bất nhân, phi lý trong xã hội, mà thủ phạm chính là bọn quan lại, là chế độ thực dân… nên Nguyễn Công Hoan thường bị đốc học trù ép, mật thám theo dõi, khám nhà, có lần cả hiến binh Nhật bắt. Các em và các con nhà văn lại bí mật hoạt động cách mạng, rồi những người thân trong gia đình lần lượt ra đi hoặc bị xích tay giải vào nhà tù đế quốc và hồi đầu kháng chiến chống Pháp, con trai đầu lòng của nhà văn đã hy sinh.

Cho nên, với ông từ trước đến sau, viết văn là để được giãi bày tâm sự, tỏ thái độ đối với cuộc sống, chứ không phải như nhiều người viết văn trước hết để được gọi là nhà văn. Ở Nguyễn Công Hoan có một cái gì giản dị, hồn nhiên đến tinh khiết khi ông nghĩ: "Chưa bao giờ tôi có định viết văn để được gọi là nhà văn" (ĐVVCT trang 105). Chính từ những nghĩ chân thành, xuất phát từ đáy lòng ấy mà Nguyễn Công Hoan sớm trở thành một nhà văn hơn ai hết (17 tuổi đã có truyện, 20 tuổi có sách được in), một nhà văn lớn, thực sự có tài năng.

Từ những đau khổ của đời người, đến những đau khổ của đời mình, những cảnh chung và riêng ấy càng khiến lòng ông quặn thắt.

Sinh thời, Nguyễn Công Hoan khi đọc bản thảo Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan của tôi, ông rất tâm đắc với nhận xét: "Cái tài của Nguyễn Công Hoan chính là biểu hiện cái tình của ông đối với cuộc sống". Bởi tôi nghĩ, nói đến tài năng của người nghệ sĩ thì trước hết phải nói tới con mắt và tấm lòng của họ (tất nhiên, chúng ta không thể coi nhẹ vấn đề năng khiếu nghệ thuật) vì trong cuộc sống phong phú, phức tạp, bộn bề, rối rắm, nhà văn nhìn thấy cái gì sâu sắc nhất, xúc cảm trước cái gì mãnh liệt nhất, và độ nóng của trái tim đến đâu?

Vào cuối những năm 20 và vài năm đầu những năm 30 của thế kỷ này, văn học ta chưa có sự đổi mới thật đáng kể. Các nhà văn, nhà thơ phần lớn đang còn quanh quẩn trong việc tìm đề tài, cảm hứng ở những gì quá quen thuộc như trăng, nước, gió, mây… ở những thứ đạo đức, luân lý, khuôn vàng, thước ngọc… lại được diễn đạt bằng lối văn cổ, nhiều câu biền ngẫu, du dương, trầm bổng, đầy những sáo ngữ, xa rời cuộc sống của đông đảo quần chúng.

Hoặc ngược lại, có vẻ đi sát gần cuộc sống hơn thì lại là không ít những áng văn lãng mạn, ủy mị, những mộng mơ, những gió nhẹ, mưa bay với những đôi mắt buồn đẫm lệ. Giữa lúc đó thì Nguyễn Công Hoan xuất hiện với hàng loạt sáng tác, phản ánh chân thực xã hội trên nhiều báo chí, dường như đơn độc, mò mẫm, tìm đường, vượt qua mọi chông gai, hiểm trở, nhanh chóng đạt tới chủ nghĩa hiện thực, mà bấy giờ còn gọi là "tả chân" hay "tả thực xã hội".

Nguyễn Công Hoan có niềm say mê văn chương, lại với sự sung sức của ngòi bút nên cùng một thời gian (1933- 1934) đã viết truyện dài Tấm lòng vàng cho báo Cậu ấm, Lá ngọc cành vàng cho Tiểu thuyết thứ bẩy, cả truyện ngắn cho báo Nhật tân. Ông viết ngày, viết đêm, có khi đến sưng cả mắt. Như ông từng nói: "Không có sự khêu gợi nào bứt tôi ra khỏi bàn giấy (ĐVVCT tr.378) cả đến mức con ốm đã đỡ chưa, ông cũng không biết, người giúp việc làm mấy tháng trong nhà, khi gặp ngoài đưòng, ông vẫn ngờ ngợ.

Sự nhiệt tình và niềm đam mê – đương nhiên phải có tài năng – đã tạo cho Nguyễn Công Hoan những kết quả tốt đẹp: được độc giả hâm mộ, bạn bè khen ngợi, nhiều nhà phê bình chú ý. Tiếc nỗi, ông chưa có quyển sách nào xuất bản thật đàng hoàng, chững chạc nên nhiều người muốn viết phê bình mà chưa viết được. Chỉ có Trúc Hà, người đầu tiên viết một đoạn dài trong bài Lược khảo về sự tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết đăng trên Nam phong (1932) nói về truyện của Nguyễn Công Hoan.

Sau đó, có thêm một bài của Nguyễn Khắc Hiếu đăng trên Thanh Nghệ Tĩnh tuần báo (1934). Như thế quả là có đặc biệt, nhưng vẫn còn quá ít, nên nhiều người khuyên Nguyễn Công Hoan ra sách. Ông bèn chọn 15 truyện in thành tập Kép Tư Bền. Cuốn sách xuất bản tháng 6/1935 là một sự kiện lớn trong đời sống văn học lúc ấy, một ngòi thuốc nổ cho cuộc tranh luận "nghệ thuật vị nghệ thuât "và nghệ thuật vị nhân sinh" dấy lên mạnh mẽ. Đây là một cuộc tranh luận lớn và có ý nghĩa rất đáng kể trong văn học.

Tham gia chủ yếu là những người có tên tuổi như Hải Triều, Thiếu Sơn, Hoài Thanh… và nửa đầu năm 1935, họ cũng chỉ bàn luận trên lý thuyết, trên quan niệm nhiều hơn là đi vào tác phẩm cụ thể. Sau một thời gian tranh luận, năm đầu coi như kết thúc. Đến khi nhân có quyển Kép Tư Bền ra đời (tháng 6/35) thì màn hai lại tiếp tục ngay rất sôi nổi, lý thú. Hải Triều, nhà phê bình mác xít rất vui mừng khi tìm thấy ở truyện Nguyễn Công Hoan những minh chứng cụ thể, rõ ràng, làm sáng tỏ luận điểm của mình.

Bởi trong tập truyện, nhà văn đã đưa vào văn học nhiều lớp người, nhiều cuộc đời, nhiều tình huống với những cảnh sống hàng ngày, lắm lúc tưởng như bình thường, giản dị, nhưng nhiều khi lại ẩn chứa hoặc phơi bày những nỗi niềm, những tình cảnh khốn khổ, khốn nạn, hoặc quái gở, tởm lợm đến kinh khủng. Nhưng tất cả đều là bản chất của hiện thực muôn hình, nghìn vẻ. Người ta bắt gặp từ những người lao động là nông dân, công nhân, viên chức, kép hát, kéo xe, đi ở, ăn mày, ăn xin… cho đến tên vua bù nhìn, nhất là các loại quan lớn, quan bé rồi lính, cường hào, địa chủ, tư sản… và thoảng hoặc thấp thoáng bóng hình một tên thực dân.

Từ những cảnh sống lam lũ, lầm than, vắt mũi không đủ đút miệng đến những cuộc sống sa hoa, đàng điếm, dâm dật, lấy thịt đè người. Hết thảy đều xuất phát từ thực tế sinh động với những chi tiết sắc nhọn, nóng bỏng hơi thở cuộc sống và vượt lên trên các chi tiết ấy là cả một sự sống phong phú, rộng lớn ẩn náu ở bên trong. Với Nguyễn Công Hoan, hiện thực cuộc sống dường như có sức mạnh ghê gớm, mãnh liệt thường ùa tràn vào tác phẩm, tạo thành những vùng, đôi khi là cả một cái nền sáng lấp lánh, làm nên giá trị lớn lao cho tác phẩm.

Thực ra, ngay từ những năm 20, khi truyện của Nguyễn Công Hoan xuất hiện trên báo, rồi tập Kiếp hồng nhan ra đời đã gây được sự chú ý phần nào. Nhưng phải đến đầu những năm 30, khi những truyện ngắn sắc sảo, đầy sức thể hiện, tái tạo in hàng loạt trên báo này, báo khác, thì tên tuổi ông mới thật nổi bật, đến khi ra sách thì suốt từ Nam chí Bắc đều biết đến Nguyễn Công Hoan, và có tới 18 tờ báo đăng bài khen ngợi Kép Tư Bền. Trong Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan viết: "Việc cuốn Kép Tư Bền được hoan nghênh làm cho tôi tin rằng tôi viết nổi tiểu thuyết, và tôi có thể theo đuổi được nghề viết văn (ĐVVCT tr.188).

Quả là Nguyễn Công Hoan có vững tin hơn (tất nhiên cũng do hoàn cảnh khách quan thuận lợi) nên liền mấy năm sau đó, ông sáng tác có khí thế hơn, cho in liên tục hàng loạt truyện ngắn và nhiều truyện dài, trong đó nhiều truyện có giá trị cao. Sự nghiệp văn học của ông ngày càng phát triển mạnh mẽ, tạo thành bề dày cả chất lưọng và số lượng: hơn hai trăm truyện ngắn được in dần thành các tập Kiếp hồng nhan, Kép Tư Bền, Hai thằng khốn nạn, Đào kép mới, Sóng vũ môn, Người vợ lẽ bạn tôi, Ông chủ báo và sau cách mạng là Nông dân và địa chủ.

Hàng ngót ba mươi truyện dài, trong đó có nhiều truyện hay như Lá ngọc cành vàng, Ông chủ, Bà chủ, Cô làm công, Bước đường cùng, Cái thủ lợn… và sau cách mạng là Tranh tối tranh sáng, Đống rác cũ... Ông cũng viết ký, trong đó xuất sắc như các bài: Những ngày tháng Tám ở Côn đảo, Người cập-rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn năm 1930 và đặc biệt là cuốn Đời viết văn của tôi thể hiện rất hồn nhiên, chân thành mà rõ nét con người tài năng, đức độ của Nguyễn Công Hoan.

Cuốn sách không chỉ giúp người đọc hiểu kỹ về con người, về bước đường sáng tạo văn học của nhà văn nói riêng mà còn cung cấp nhiều điều thú vị về tình hình văn đàn nói chung. Lại do đọc rộng, biết nhiều, nhớ lâu, lại được sống cùng thời với một số nhà văn, nhà thơ nên Nguyễn Công Hoan đã viết được một số bài nghiên cứu về văn học cổ, cận và hiện đại Việt Nam có giá trị. Ồng cũng viết cả một số bài về ngôn ngữ… Đương thời, truyện dài, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan là sản phẩm của nền văn học mới ở nước ta. Đây là sự đổi mới so với nhiều thế hệ sáng tác gần ông.

Riêng về truyện dài, những truyện tiêu biểu như Bước đường cùng thì đã có quá nhiều bài báo, trang sách phân tích, đánh giá, ngợi khen, không chỉ ở trong nước mà phần nào ở cả nước ngoài. Ông chủ cũng đã có bài nghiên cứu kỹ, Lá ngọc cành vàng, Tắt lửa lòng, Tấm lòng vàng, trước cách mạng có khá nhiều bài phê bình, giới thiệu và còn được chuyển thể thành cải lương và được công diễn nhiều lần ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn… Do vậy, ở đây chúng tôi chỉ muốn nói đến truyện ngắn, đặc biệt là truyện trào phúng (hầu hết truyện ngắn của ông là truyện trào phúng) tức là mặt sở trường, mặt kết tinh tài năng xuất chúng của Nguyễn Công Hoan.

Đúng là hoàn cảnh xã hội và điều kiện gia đình cùng cá tính mà Nguyễn Công Hoan để nảy sinh tiếng cười. Cơ sở tiếng cười của ông thường là do nhà văn nhận thức được sự trái ngược giữa hiện tượng và bản chất, giữa nội dung và hình thức hoặc sự vô lý, phi lôgich của các hiện tượng xã hội, v.v… Ở Nguyễn Công Hoan, ta thấy sự phong phú về các thủ pháp nghệ thuật trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề.

Chẳng hạn, chỉ một việc quan ăn tiền mà ông đã viết thành gần một chục truyện ngắn trào phúng tả những thủ đoạn ăn tiền khác nhau, mà truyện nào cũng sinh động, hấp dẫn, mang một dáng vẻ riêng, phanh phui được bản chất tham lam, đểu cáng của bọn mặt người dạ thú. Như có tên xoay tiền một cách quỷ quyệt, tàn nhẫn (Thịt người chết), có tên bịa ra chuyện "duy trì lễ nghi cổ nhân" để ăn của đút (Đi giày). Có tên vô lý đến mức buộc tội cả người làm việc thiện (Chiếc quan tài (III)) v.v…

Ông còn tìm thấy ở vợ con những vị quan lớn cũng có nhiều thủ đoạn để bóp nặn dân, như trong các truyện Hé! hé! hé, Mua lợn, Đổi bạc… mà tác giả đã khái quát thành nhận xét, đúng ra là câu chửi rất đau: "không phải người có dòng máu quan trường, đố ai làm nổi" (Đổi bạc). Hoặc chỉ việc chủ nhà hành hạ, đối xử tàn nhẫn với đầy tớ mà Nguyễn Công Hoan cũng viết được tới 7 truyện ngắn, với những tình huống éo le, đáng cười, đáng khóc, như Quyền chủ, Phành phạch, Thanh! dạ! Thằng Quýt (I) Thằng Quýt (II), Mua bánh, v.v…

Cường độ và mức độ trào phúng của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan cũng mang nhiều sắc thái, cung bậc. Từ chuyện khôi hài với nụ cười thoải mái, như Bộ ấm chén cổ, với nụ cười ngộ nghĩnh như Nỗi lòng ai tỏ, đến những truyện trào phúng mỉa mai, như Xin chữ cụ Nghè, hay giễu cợt, tố cáo như Tôi tự tử… lắm lúc chất trào phúng được nâng lên mức đả-kích sâu cay, gây cho người đọc thái độ căm phẫn, khinh miệt hơn là hài hước, giễu cợt như Thịt người chết hoặc chỉ cười bóng gió ngụ ngôn điểm huyệt hơn là công phá như Đào kép mới... Lại có lúc tiếng cười như lắng đọng thấm lẫn vào bên trong, nhưng sâu cay xót xa như Ngựa người và người ngựa v.v… Tuy vô cùng phong phú, đa dạng, nhưng cũng có thể thấy nổi lên mấy dạng chính:

Có loại dừng ở mức khôi hài do nhà văn cường điệu, phóng đại những hiện tượng nào đó tới mức làm cho nó trở nên dơ dáng, kỳ quặc đến độ ai cũng nhận thấy. Loại này còn là sự phủ nhận những cái cá biệt hoặc thứ yếu, chứ chưa hẳn là những cái thuộc bản chất cuộc sống (Anh hùng tương ngộ, Nỗi lòng ai tỏ…) Có loại ở dạng mỉa mai, giễu cợt.

Nếu ở loại trên, tác giả hình như hạ thấp hình tượng xuống, thì ở đây lại như nâng nó lên, gắn cho nó những điều mà nó không đạt tới, rồi cuối cùng mới để lộ ra bản chất thực của nó. Loại này đã tiến tới phủ nhận những cái chung, cái cơ bản (cụ Chánh bá mất giầy, Xin chữ cụ Nghè…)

Có loại là sự châm biếm, tố cáo, lên án. Ở đây, người viết nâng cao các đặc điểm vốn có lên tới mức khôi hài, lố bịch, làm cho người đọc nhận thức được mặt trái của hiện tượng đã tới mức phải căm ghét, phẫn nộ, đôi khi có sức kích động, khiến người ta thấy cần thiết phải tiêu diệt hiện tượng đó và cả những điều kiện sản sinh ra nó trong cuộc sống (Tinh thần thể dục, Tôi tự tử)

Đứng trước mỗi người, mỗi cảnh, mỗi hiện tượng, mỗi vấn đề xã hội, từng nhà văn có cách nhìn, cách nghĩ khác nhau, nhất là cách khai thác và thể hiện thành truyện thì thật thiên hình vạn trạng. Thường trong nhiều hiện tượng của xã hội cũ, vừa có cái bi, vừa có cái hài. Nhiều khi cái bi và cái hài đan xen, trộn lẫn vói nhau, Nguyễn Công Hoan luôn biết thể hiện linh hoạt, tài tình những tình huống bi hài lẫn lộn nên đằng sau tiếng cười thường thấm lẫn những giọt nước mắt đắng cay, rất phù hợp với ý kiến của Biêlinxki: "Kết hợp giữa cái bi và cái hài là thể hiện cuộc sống theo bản chất của nó".

Cũng có những hiện tượng trong cuộc sống dường như không thấy lộ rõ cái hài, nhưng với con mắt tinh nhậy, biết sàng lọc của người nghệ sĩ có sở trường về trào phúng như Nguyễn Công Hoan thì lại dễ dàng nắm bắt được những nét lấp lánh của cái hài và có ngay một góc độ để hạ ống kính chiếu thẳng vào những cái đáng cưòi, đáng giễu. Bởi vậy, khi va chạm với thực tế, Nguyễn Công Hoan thường tạo ra được những dạng cốt truyện mang tính trào phúng, có khi còn rất đậm nữa. Đối với ông, cốt truyện là vấn đề quan trọng bậc nhất.

Khi có được cốt truyện rồi, thì do chiêm nghiệm nhiều, viết nhiều thành thuần tay nên Nguyễn Công Hoan khá nhanh chóng xây dựng được những tính cách sắc sảo, rõ nét, chắt lọc được những chi tiết sắc nhọn, đắt giá, tạo ra những kiểu chơi chữ dí dỏm, ngộ nghĩnh… Rồi cách trình bày truyện thế nào cho lôi cuốn, hấp dẫn, mở đầu cho tự nhiên; nhanh gọn, kết thúc cho bất ngờ, thú vị, bố cục cho mới mẻ, chặt chẽ, hợp lý, văn viết và ngôn ngữ sao cho gọn gàng, trong sáng và rất Việt Nam…, tất cả đều được Nguyễn Công Hoan rất quan tâm. Riêng về bố cục truyện, phải nói ông có nhiều đổi mới rất đáng chú ý.

Trong văn học quá khứ, truyện thường được bố cục theo trình tự thời gian. Ở truyện của Nguyễn Công Hoan, có nhiều cách bố cục rất sinh động, khi thì nhà văn đưa người đọc đi sâu dần vào vấn đề (Xin chữ cụ Nghè), khi thì rào đón bằng những câu "bình luận", tâm sự dí dỏm rồi mới đi vào truyện (Đồng hào có ma), lúc lại đột ngột tả thẳng ngay vào nhân vật (Hai cái bụng), hoặc ở chỗ khác lại miêu tả sự kiện diễn biến theo thời gian (Xuất giá tòng phu), lúc lại đảo lộn thời gian:
Việc xẩy ra sau kể trước; việc xảy ra trước kể sau (Lập gioòng), có khi lại dùng toàn những bức thư tạo thành truyện (Thế là mợ nó đi Tây) v.v… Sự bố cục truyện chặt chẽ, hợp lý thể hiện rõ trong việc bắt đầu từ đâu, diễn biến cách nào, khi nào thì kết thúc… Từ cơ sở đó, nhà văn ước lượng cho truyện của mình một khuôn khổ vừa phải, không bị kéo dài hoặc rút ngắn quá đáng. Bởi vậy, hầu hết truyện của ông rất ngắn, rất gọn, thường chỉ vài ba trang, và số lượng nhân vật cũng rất ít, thường từ một đến ba nhân vật.

Nếu tình huống của truyện hơi phức tạp hoặc cần đến số lượng nhân vật nhiều hơn thì ông cắt ra làm hai, hoặc ba truyện tiếp nhau v.v… Nói chung, nghệ thuật truyện ngắn mà chủ yếu là nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan được biểu hiện ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh. Truyện của ông mang đậm chất trào phúng mà cơ bản là do tác giả đã khéo tổng hợp đưọc nhiều yếu tố một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên trong thủ pháp gây cười.

Tuy nhiên, trong đó vẫn thấy nổi rõ một thủ pháp chủ yếu là cường điệu, phóng đại mà nói theo cách của Nguyễn Công Hoan là "nói quá lên một tý", làm cho nhân vật, sự việc trở nên lố bịch, kỳ quặc, tạo cho truyện những bất ngờ, đột ngột, thú vị, gây nên những tiếng cười hài hước, mỉa mai, châm biếm.
10
[...]

Bởi thế, ông xoay ra viết truyện cho thiếu nhi, cũng không dám lấy tên thật, lấy bút danh là Ngọc Oanh (đảo lộn vị trí các chữ cái của hai chữ "Công Hoan"). Thấy truyện in được ông lấn tới, viết mấy truyện dài ('Thanh đạm, Danh tiết). Tuy ý đồ tốt, nhưng truyện lại lộ rõ tư tưởng bảo thủ, nên bị báo Tin tức phê phán. Nguyễn Công Hoan lâm vào tình trạng lúng túng, bế tắc và nghĩ rằng truyện ngắn viết tốt thì kiểm duyệt không cho in, truyện dài viết vụng thì bị phê phán nên ngán ngẩm.


Cây bút lừng danh

Trong khi hoàn cảnh riêng cũng có nhiều chuyện đau lòng: bản thân bị đưa ra toà, các em và con trai bị bắt nhiều lần, nhà cửa bị khám xét luôn, bạn bè cũng e ngại ông, ít giục bài. Nguồn cảm hứng sáng tạo dường như bị dập tắt. Nguyễn Công Hoan cảm thấy buồn, chỉ biết quay ra làm thơ tình, khóc trăng, khóc gió cho qua ngày. Nhưng tạng của ông đâu phải ở chỗ làm thơ tình. Giữa lúc, Nguyễn Cồng Hoan chán đời nhất thì cuộc khởi nghĩa tháng Tám thành công. Cơn lốc cách mạng đã cuổn phăng con người tài năng và đầy nhiệt huyết ấy vào lòng mình.

Nhà văn vui mừng, hồ hởi mặc áo lính, làm công tác văn hóa trong quân đội và dần dần có cơ hội để trở lại viết văn. Thoạt đầu, ông viết truyện vừa Đồng chí Tơ cho báo Sao vàng, viết truyện Xổng cũi được đồng chí Trường Chinh khen, được bộ đội học tập để gây căm thù. Rồi Nguyễn Công Hoan viết truyện dài Tranh tối tranh sáng, truyện ngắn Bà lái đò Việt Nam… Ngòi bút của ông lại bắt đầu tung tẩy trong luồng ánh sáng mới và thế là ngay trong thời gian ốm, được nghỉ để dưỡng bệnh, ông cũng viết truyện dài Bà Năm đi tản cư (nhưng vì chiến tranh chưa kết thúc, còn nhiều chi tiết chưa đưa được vào truyện nên phải tạm gác lại).

Đến khi hòa bình lập lại (1954), Nguyễn Công Hoan mới thực sự trở lại với nghề văn. Ông hăng hái tham gia cải cách ruộng đất, viết một số truyện ngắn, in thành tập Nông dân và địa chủ. Nguyễn Công Hoan biết rất rõ chỗ mạnh của mình là vốn sóng cũ dồi dào, phong phú nên viết lại Tranh tối tranh sáng (bản thảo cũ bị mất gần hết, hơn nữa ông thấy cần phải viết sâu hơn), viết Hỗn canh hỗn cư, rồi Đống rác cũ v.v… và còn có nhiều đóng góp mặt này, mặt khác cho nền văn học mới.

Thời đại mới đã mở ra cho công tác nghiên cứu, phê bình một bước phát triển mới. Nguyễn Công Hoan là một trong những nhà văn hiện thực tiêu biểu nên rất được chú ý. Sự nghiệp của ông được đánh giá cao và xác đáng hơn. Nhiều người đã coi ông là "Nhà văn lớn", "tiêu biểu", "xuất sắc", là "người mở đường", là "lá cờ đầu" của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Ông cũng được đánh giá là người có công trong việc khai phá cho thể loại truyện ngắn hiện đại.

Riêng về loại truyện trào phúng thì ai cũng phải thừa nhận ông là người tiêu biểu nhất

Không ít truyện ngắn của ông được in thành tuyển tập, nhiều truyện được tái bản, riêng Bước đường cùng phải trên một chục lần. Vượt qua được sự thử thách của thời gian, hơn nửa thế kỷ nay, có nhiều bài báo, trang sách, cả những công trình nghiên cứu riêng, những luận án phó tiến sĩ và thạc sĩ đánh giá, khẳng định những thành công, những đóng góp to lớn của ông về nhiều mặt, nhiều khía cạnh – tất nhiên những mặt bất cập cũng được nói tới – khẳng định vị trí quan trọng, cao đẹp của ông trong nền văn học hiện đại Việt Nam.

Ông cũng là người được hưởng nhiều vinh dự, có những điều thật đặc biệt mà không phải người cầm bút nào cũng đạt được. Như có quá nhiều độc giả hâm mộ (nhiều người chỉ mua An Nam tạp chí khi có đăng xã hội ba đào ký, tức truyện của Nguyễn Công Hoan), xếp hàng dài xin chữ ký của nhà văn vào sách, được các độc giả ở xa tìm đến để kể nỗi đau của đời mình, được đồng bào Cẩm Giàng làm lễ truy điệu (tưởng Nguyễn Công Hoan bị Nhật bắt đã bỏ mạng trong tù), được Bác Hồ bảo đến dùng cơm với Bác ở Mạc Tư Khoa, được nhà nước ta Tặng thưởng huân chương lao động hạng nhất vì "đã có nhiều công lao đóng góp cho nền văn học Việt Nam" (năm 1977, khi ông mất).

Tên ông còn được đặt cho một đường phố ỏ Hà Nội, và gần đây ông lại là một trong số ít nhà văn có vinh dự được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh (1996). Tên tuổi Nguyễn Công Hoan chẳng những in đậm và sáng lên trên những trang văn học sử nưỏc nhà, mà từ lâu truyện của ông đã được nhiều nước dịch và giới thiệu công phu, trân trọng. Nhà văn trở nên gần gũi và thân yêu với chúng ta, bạn bè ta và nhiều dân tộc khác, hoàn toàn không chỉ với tư cách một sáng tạo cá nhân mà còn với tư cách đại biểu cho một khuynh hưóng, một thể loại, một phong cách có ý nghĩa về phưong diện mỹ học.

Từ những năm 60, nhiều truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đã được chọn lọc, dịch và giới thiệu ra nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Bungari, Hungari, Anbani, Cộng hòa dân chủ Đức, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Tiệp Khắc… cả quốc tế ngữ, in thành tập với những tên Răng con chó của nhà tư sản, Cụ chánh bá mất giày, Đồng hào có ma (hoặc in mấy truyện trong cùng một tập với những truyện của các nhà văn Việt Nam khác).

Truyện dài Bước đường cùng được dịch ra tiếng Nga, Ba Lan, Mông Cổ, Nhật, quốc tế ngữ. Tranh tối tranh sáng được dịch ra tiếng Trung Quốc v.v…

Từ năm 1962, giáo sư tiến sĩ Niculin, người Nga nghiên cứu và dịch nhiều về văn học Việt Nam đã đặc biệt chú ý đến Nguyễn Công Hoan và cho rằng có thể tìm thấy ở nhà văn này "những trang đẹp nhất của văn xuôi Việt Nam hiện nay". Đến năm 1973, khi cho in tập truyện dịch Đồng hào có ma, nhà nghiên cứu lại giới thiệu với đầy nhiệt tình, mến trọng và đánh giá những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan viết trước cách mạng "đầy sức thể hiện, tái tạo bức tranh xác thực về cuộc sống của nước Việt Nam thuộc địa phong kiến".

Tiến sĩ khẳng định "văn châm biếm của Nguyễn Công Hoan là vũ khí của cái thiện" và "Nguyễn Công Hoan là bậc thầy về truyện ngắn châm biếm". Nhà nghiên cứu văn học J’an Múcka (Tiệp Khắc) đã đọc tham luận tại hội nghị thế giới về văn học so sánh, với bài: So sánh truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn Sê khốp. Trong tham luận có đoạn viết: "Trong những năm 30 của thế kỷ này, Nguyễn Công Hoan đã đưa vào văn học Việt Nam một cách không theo truyền thống một thể loại truyện ngắn mang tính xã hội mạnh mẽ, truyện ngắn châm biếm.

Một nhà nghiên cứu văn học Việt Nam (Hoàng Ngọc Hiến) có nói rằng ông rất xúc động khi thấy câu lạc bộ Quốc tế tại trường đại học Lômônôxốp ở Liên Xô (ông sống ở bên đó những năm 1959-1964), mỗi nước có hai nhà văn được treo ảnh thì Việt Nam là ảnh Nguyễn Trãi và Nguyễn Công Hoan. Đương nhiên, tên tuổi của Nguyễn Công Hoan cũng có trong Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô từ những năm 60.

Là một nhà văn lớn, tài năng, nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà nhiều nước trên thế giới biết tiếng, nhưng trong cuộc sống, Nguyễn Công Hoan luôn luôn khiêm tốn, giản dị, nhân ái, và độ lượng. Ông không tự cho mình là siêu nhân, mà khẳng định "Tôi chịu ảnh hưởng của các bậc tiền nhân không nhỏ" (ĐVVCT – tr.50). Ông chịu khó đọc và không ngần ngại khen người đã đi trước một bước, như nói về Phạm Duy Tốn: "đọc văn của Phạm Duy Tốn trong truyện ngắn Sống chết mặc bay, trong các bài xã thuyết, nhất là trong bốn tập Tiếu lâm Annam mà ông không dám ký tên, thì tôi rất ngạc nhiên vì thấy từ cách dùng chữ cho đến lối đặt câu, sao mà nó lọt vào tai và nó vẫn còn mới thế" (ĐVVCT tr.120) và trong câu chuyện trao đổi riêng, Nguyễn Công Hoan hay khen Tam Lang chơi chữ giỏi, như bài Nam Hương, Nam Phương? lúc lại phục Tú Mỡ làm được những bài thơ hay, như bài Chữa mắt rồng, hoặc những câu thơ hay như: Tiếng Tây ông nói làu làu / Hỏi văn quốc ngữ lắc đầu rằng "non" để mỉa mai Phạm Duy Khiêm.

Là người có cái tâm trong sáng, Nguyễn Công Hoan luôn vui mừng trước những thành công của bạn bè, đồng nghiệp, không gợn một chút ghen tỵ hoặc dìm dập ai. Có lần, trong câu chuyện trao đổi riêng, khi nói về văn học trước cách mạng, nói đến Nhất Linh và Khái Hưng, hai đối thủ của ông (cũng là những người viết khỏe và nổi tiếng), nhưng ông vẫn rất khen và còn phục Nhất Linh không chỉ ở tài viết, mà cả ở tài tổ chức văn đoàn, và tờ báo Phong Hóa, Ngày nay. Duy có lần, ông cười cười nói vói tôi: "Tôi đả báo Phong Hóa và Nhất Linh vì báo có hình vẽ tôi không giống và mấy người trong Tự lực văn đoàn viết truyện hay đề tặng người này, người kia". Nhưng ông cũng chỉ diễu nhẹ nhàng, dí dỏm trong truyện Samandji (Samandji đưa tờ Phong Hóa cho Nguyễn Công Hoan xem rồi bảo ông là "không tốt", "phản bội", "lừa" và người trong tờ báo mới là Nguyễn Công Hoan, chứ ông không phải là Nguyễn Công Hoan").

Truyện đề tặng Nhất Linh, trong đó có mấy câu: "Xưa nay, viết tiểu thuyết, tôi không hề tặng riêng ai, là do tôi nghĩ rằng nếu tặng tiệc như thế thì thà bỏ quách ngay năm xu ra mua con tem gửi thẳng bài đến người ấy, rồi đòi tiền nhuận bút có hợp lý hơn là "chiếm công vi tư" mấy trang báo, vừa làm mất danh dự cho bạn đọc mắc tiếng tò mò, vừa làm ức cho mấy ông chủ báo mất món tiền, mà vì nhã nhặn, ông không nỡ nói ra. Nhưng lần này, tôi lại viết để tặng tác giả cuốn Đoạn tuyệt là do…" Sau này khi đã có tuổi, ông thường động viên, khích lệ và khi cần cũng sẵn sàng giúp đỡ những người cầm bút ở thế hệ trẻ.

Khi nhìn người, nhìn việc, ông rất nhân ái và thường nhìn vào mặt tốt nhiều hơn.

Với bản thân thì chẳng bao giờ ông tự đề cao, không thích ai khen mình quá đáng và đã từng chân thành, thân tình nhắc nhở những người nghiên cứu: "Xin anh em chớ gán cho chúng tôi những ưu điểm mà chúng tôi không có, làm chúng tôi phát ngượng" (ĐVVCT tr.207). Nhà văn còn mách giúp một vài nhược điểm của Bước đường cùng mà nhiều người nghiên cứu bỏ qua hoặc chưa nhìn ra. Ồng rất quý mến những người làm việc cẩn thận, chịu khó, và dù còn có chỗ này, chỗ khác chưa hiểu biết (như về thực tế trước cách mạng) thì ông không coi thường mà sẵn lòng nói cho nghe cặn kẽ, tỉ mỉ.

Riêng tôi rất biết ơn nhà văn đã giúp cho nhiều điều bổ ích trong quá trình nghiên cứu văn học Việt Nam trước cách mạng. Trong cuộc sống, ông được đi nhiều, biết nhiều người, nhiều cảnh, lại đọc rộng, hiểu sâu hay suy ngẫm, vậy mà ông không hề ảo tưỏng là biết đủ, có thể viết được tất cả. Nhà văn có ý nghĩ rất nghiêm túc chân thành "Một mình mình làm sao mà biết được cho xuể" (ĐVVCT tr.284) và chúng ta không thể không vô cùng khâm phục trước những lời tự thú tuyệt vời của nhà văn (về mảng sống mà ông chưa biết): "năm 1938, sau khi viết Bước đường cùng, tôi định viết cuốn Bước đường ngoặt nói về đời người thợ mỏ, lại định viết cả cuốn Bước đường sáng, nói về đời sống người tù chính trị trong các nhà lao, là tôi đã suýt can vào một vụ buôn lậu nghệ thuật khá quan trọng" (DVVCT tr.283).

Thật thú vị biết bao, một cách nghĩ, cách nói mang đậm tư chất Nguyễn Công Hoan, một nhà văn mà ai cũng phải thừa nhận là sống hồn nhiên, chân thành, thủy chung, nhân hậu. Cũng như những sáng tạo nghệ thuật phong phú, độc đáo những nét đẹp trong tính cách Nguyễn Công Hoan thật dồi dào, đa dạng. Có thể nói, ông là một con người tài đức song toàn. Tôi nghĩ, nói đến Nguyễn Công Hoan là nói đến một tài năng và một nhân cách lớn.




Lê Thị Đức Hạnh












Thứ Bảy, ngày 25 tháng 6 năm 2016

Trách nhiệm đạo đức xã hội của người cầm bút


Trách nhiệm đạo đức xã hội của người cầm bút

Minh Hải

Trích

Văn học và xã hội

Văn học bắt nguồn từ đời sống xã hội, chịu sự chi phối của những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Văn học phản ánh thực tại đời sống, nó là một hình thái ý thức xã hội. Không có thứ văn học nào đứng ngoài xã hội, chính trị, kinh tế.
Để định giá tác phẩm văn học và định vị những đóng góp của chủ thể sáng tạo đối với lịch sử văn học dân tộc, không thể không xét tới chức phận của nó đối với cái xã hội sinh ra nó, mang lại ý nghĩa cho nó.
Chức năng của văn học trước hết là phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân, dân tộc. Lý giải nét đặc sắc và sức sống của văn chương Nguyễn Công Hoan, trong một bài viết cách nay 30 năm, Nguyễn Minh Châu cho rằng: Ở cái buổi giao thời biết bao sự mời gọi tưởng rất khó cưỡng nổi của văn hóa ngoại lai, đứng trước nguy cơ bật gốc trốc rễ hồi đầu thế kỉ XX, Nguyễn Công Hoan là một cây bút giàu bản lĩnh.
Bài học kinh nghiệm mà cây bút trào phúng bậc thầy này để lại là: “đừng bao giờ lười biếng nằm ỳ ra trên trang viết như một sự tự khuôn định, và cũng đừng bao giờ để cho văn chương trở nên xa lạ với đời sống dân tộc mình”.
Ở trong con người nhà văn Nguyễn Công Hoan có một thứ “bản năng tinh thần dân tộc mạnh mẽ”, ông thường xuyên mô tả các nhân vật của mình “bằng ngôn ngữ dân tộc, bằng lối nói nôm na đầy ý vị của người Việt Nam”; “đối với một đời văn, cái đáng kể là những điều nhà văn ấy đã làm được cho đời”, Nguyễn Công Hoan là “người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng cho nền văn xuôi hiện thực phê phán”, ông “ra đời như một tác giả truyện cười dân gian, mà ngày xưa thời nào trong nông thôn ta cũng có”.

Để tạo ra cái mới, làm giàu thêm truyền thống văn học dân tộc, nhà văn có thể chỉ cần đi sâu vào văn hóa dân tộc mình, trở về với suối nguồn tư duy dân gian, ngôn ngữ dân gian, với lời ăn tiếng nói hàng ngày.




Để thực hiện chức phận đối với xã hội, văn học không chỉ tin tưởng vào con người, bênh vực con người, phê phán cái xấu, cảnh tỉnh người đọc, mà còn góp phần xác lập, duy trì và phát triển những chuẩn mực đạo đức trong xã hội hiện đại.
Thiên chức của nhà văn là tạo ra cái đẹp giàu giá trị thẩm mỹ và nhân văn. Qua hình tượng thẩm mĩ độc đáo, văn chương khơi gợi ở người đọc những cảm xúc nhân văn, dẫn dắt người đọc đến chân trời mĩ cảm cao đẹp.
Nhưng để làm tốt trách nhiệm đối với xã hội, trước hết nhà văn phải làm tốt trách nhiệm với chính mình, có trách nhiệm đối với những gì mình viết ra, với bạn đọc của mình, đối với chính nghề viết của mình.
Nhà văn phải thành thực với bản thân và trung thực với sự thật.Trách nhiệm đạo đức xã hội của người cầm bút

Nhiều giá trị cốt lõi, đức tính tốt đẹp của dân tộc chịu sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và bối cảnh hội nhập; đạo đức ngành y xuống dốc khiến nhiều người phẫn nộ; đạo đức học đường trở thành vấn đề đáng lo ngại của cả xã hội;
đạo đức gia đình, những giá trị truyền thống đẹp đẽ của gia đình bị băng hoại; nhiều người trẻ thiếu lý tưởng, sống ích kỉ, thực dụng, thích hưởng thụ, đua đòi, lệch lạc; không ít người ở độ tuổi trưởng thành cũng sống thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội;
hiện tượng máu lạnh giết người không ghê tay, mất hết nhân tính có chiều hướng gia tăng, lương tâm con người bị bào mòn, ngày càng nhiều hiện tượng vô cảm, thờ ơ trước số phận ngang trái, nỗi đau của con người; sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, tư tưởng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân...
[...]

Minh Hải





Thứ Năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016

Một đứa con đã khôn ngoan


Đọc sách



Một đứa con đã khôn ngoan


Giới thiệu

Trong truyện Một đứa con đã khôn ngoan, nhà văn giáo dục trẻ em đức tính yêu lấy tiếng Việt. "Ta có tiếng nói riêng. Bổn phận ta là phải giữ lấy tiếng ta, vì tiếng ta tức là tinh thần nước ta". Cậu bé Chỉ trong truyện này chỉ mê tiếng Pháp và cho rằng tiếng Việt không đủ để diễn tả hết mọi suy nghĩ và sự vật. Ngay cả lúc viết thư cho bạn, cậu cũng phải dùng thêm tiếng Pháp. Cậu (bố) của cậu bé Chỉ không đồng ý và phân tích cho cậu rằng: "Con thấy thiếu chứ tiếng ta không thiếu. Nếu thiếu chăng, thì nó thiếu ở ý mới, vật mới xưa kia không có. Còn những ý cũ vật cũ thì tiếng nước ta vẫn đủ như thường. Xem ngay như về gia đình, ta có biết bao nhiêu tiếng: kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, chắt, chút, bác, cậu, mợ, dì, cô, thím, âu yếm, thân, hiếu, đễ, từ và biết bao nhiêu tiếng nữa. Lại nói như cách mang đồ đạc, ta có đội, gánh, xách, vác, cầm, khênh, ôm, cõng, bẽ, tải, cắp, khuân, bế, mỗi tiếng một nghĩa riêng""Cậu dám đánh cược với ông cử, ông nghè Tây dùng tiếng Pháp mà dịch nổi tiếng "lôi thôi" của ta đấy". Dù được phân tích thấu đáo như thế nhưng cậu bé Chỉ vẫn không tin. Và cậu chỉ thật sự tin khi mợ (mẹ) của cậu bị ốm và nhờ cậu đọc giùm tiểu thuyết tiếng Việt. Cậu bất ngờ là không ngờ nó lại hay đến thế! "Truyện Tây cũng đến thế là cùng". Thật bùi ngùi khi đọc lại những lời của người mẹ nói với con: "Mợ mua sách Quốc văn, được sách hay đã đành, dù phải sách dở mợ cũng vui lòng. Mình không có tài làm cho Quốc văn hay đẹp hơn lên, thì phải có chút khuyến khích những người có công quý hóa ấy vậy".




Tác giả: Nguyễn Công Hoan.
Nhà xuất bản: Trẻ (01/1998)
Định dạng: Ebook
Kích thước: 2,52 MB (PDF)
Ngày phát hành: 01/1998
Số trang: 217
Ebook: 14.900 đ



Đọc thử trích đoạn

MỘT ĐỨA CON ĐÃ
KHÔN NGOAN
Và những tác phẩm mới phát hiện của
cố nhà văn Nguyễn Công Hoan viết cho trẻ em
NGUYỄN CÔNG HOAN




MỘT ĐỨA CON
ĐÃ KHÔN NGOAN
Tập truyện



NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
1998


MỤC LỤC


*   Lời giới thiệu   5
1   Một đứa con đã khôn ngoan   11
2 Đồng trinh Gia - Long (truyện vui)   44
3 Đảng Rổ Bẫy   50
4 Tấm lòng vàng (kịch)   154


Lời giới thiệu

TẤM LÒNG CỦA NHÀ VĂN
NGUYỄN CÔNG HOAN
DÀNH CHO TRẺ EM

LÊ MINH QUỐC

Từ thuở văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ còn chập chững đi những bước đầu tiên, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã xuất hiện. Sự có mặt của tập truyện ngắn Kiếp hồng nhan xuất bản năm 1923 đã ghi nhận điều này. Trong trào lưu của dòng văn học hiện thực phê phán, bằng tác phẩm của mình, ông đã khẳng định vị trí hàng đầu và được xem như một trong những người đặt nền móng cho nền văn học bằng những tác phẩm xuất sắc nhất. Hơn 50 năm cầm bút. Ông đã có dành một khoảng thời gian để sáng tác cho thiếu nhi. Trong hồi ký Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học 1971) có đoạn ông viết: "Lại một người bạn của tôi là Nguyễn Đức Phong, tức Thái Phỉ, xuất bản tờ báo nhi đồng lấy tên là Cậu Ấm. Báo Cậu Ấm đăng hai truyện dài và một truyện ngắn. Một truyện dài là Tấm lòng vàng" (tr. 181). Xin đặt câu hỏi: - Ngoài tác phẩm đã nêu trên thì một truyện dài và một truyện ngắn còn lại tên gì? Lâu nay, do thiếu tư liệu nên các nhà nghiên cứu văn học đã không đề cập đến.

Theo tìm hiểu của chúng tôi thì đó là truyện dài Đảng Rổ Bẫy và truyện ngắn Đồng trinh Gia Long.

Trước hết xin đề cập đến tờ báo mà trong hồi ký của nhà văn Nguyễn Công Hoan có đề cập đến. Tờ báo này từ số 1 đến số 12 (ra ngày 8-5-1935) có tên Cậu Ấm báo con trai. Bắt đầu từ số 13 (ra ngày 15-5-1935) được đổi tên thành báo Cậu Ấm Cô chiêu. Chủ nhiệm của báo là ông Nguyễn Đức Phong, toà soạn đặt tại 82 Rue du Coton (phố Hàng Bông Hà Nội), báo in theo khổ 19 X 29cm, dày 20 trang. Truyện dài Tấm lòng vàng được tin từ số 1 đến số 13, trước khi chấm dứt có giới thiệu thêm: "Tấm lòng vàng đã đặt ông Nguyễn Công Hoan vào vị trí số 1 nhà viết truyện cho trẻ em có biệt tài, muốn biết ông Hoan hơn nữa thì đón xem Đảng Rổ Bẫy". Qua số báo sau, tức số 14 (ra ngày 22-5-1935) bắt đầu in Đảng Rổ Bẫy và kết thúc vào số 30 (ra ngày 11-9-1935). Còn truyện ngắn Đồng trinh Gia Long thì in trên báo số 6 (ra ngày 27-3-1935).

Do truyện dài Đảng Rổ Bẫy chưa được in thành sách nên hầu như các nhà nghiên cứu không biết đến cũng là điều dễ hiểu. Từ sự phát hiện này, chúng tôi có viết thư báo cho nhà văn Lê Minh - con gái của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Và chúng tôi thật sự vui mừng khi trong thư phúc đáp, bà Lê Minh cho biết cũng mới tìm được hai tác phẩm của bố. Đó là vở kịch Tấm lòng vàng gồm 5 hồi, 3 cảnh do chính nhà văn chuyển thể từ truyện dài cùng tên và truyện vừa Một đứa con đã khôn ngoan. Hai tác phẩm này thuộc tủ sách Truyền Bá của NXB Tân Dân in vào năm 1942. Có được hai tác phẩm này là do Bibliothèque Paris tặng cho Thư viện quốc gia - Bộ Văn hoá - Thông tin, và nơi đây đã cho bà Lê Minh chụp từ microfim.

Từ những sự phát hiện này, chúng ta biết thêm một biệt tài của nhà văn bậc thầy Nguyễn Công Hoan khi viết cho trẻ em. Ở đó sự giáo dục, hướng thiện đã được lồng vào cốt truyện ly kỳ, gay cấn để hấp dẫn người đọc, chứ không chỉ là những lời giáo huấn khô khan. Và điều đáng quý hơn nữa là những vấn đề mà nhà văn đặt ra thì ở thời điểm này nó vẫn còn mang ý nghĩa thời sự.

Trong truyện Một đứa con đã khôn ngoan, nhà văn giáo dục cho trẻ em đức tính yêu tiếng Việt. "Ta có tiếng nói riêng. Bổn phận ta là phải giữ lấy tiếng ta, vì tiếng ta tức là tinh thần nước ta" (tr. 12). Cậu bé Chỉ trong truyện này chỉ mê tiếng Pháp và cho rằng tiếng Việt không đủ để diễn tả hết mọi suy nghĩ và sự vật. Ngay cả lúc viết thư cho bạn thì cậu cũng phải dùng chêm tiếng Pháp.

Cậu (bố) của cậu bé Chỉ không đồng ý và phân tích cho cậu rằng: "Con thấy thiếu chứ tiếng ta không thiếu. Nếu thiếu chăng, thì nó thiếu ở ý mới, vật mới xưa kia không có. Còn những ý cũ vật cũ thì tiếng nước ta vẫn đủ như thường. Xem như về gia đình, ta có biết bao nhiêu tiếng: kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, chắt, chút, chít, bác, cậu, mợ, dì, cô, thím, âu yếm, thân, hiếu, đễ, từ và biết bao nhiêu tiếng nữa. Lại nói như cách mang đồ đạc, ta có: đội, gánh, xách, vác, cầm, khênh, ôm, cõng, bê, tải, cắp, khuân, bế, mỗi tiếng một nghĩa riêng” (tr. 13) và “Cậu dám đánh cuộc với các ông cử; ông nghè Tây dùng tiếng Pháp mà dịch nổi tiếng "lôi thôi" của ta đấy" (tr. 13). Dù được phân tích thấu đáo, nhưng cậu bé Chỉ vẫn không tin. Và cậu chỉ thật sự tin khi mợ (mẹ) của cậu bị ốm và nhờ cậu đọc giùm tiểu thuyết tiếng Việt. Cậu bất ngờ là không ngờ nó lại hay đến thế!
"Truyện Tây cũng đến thế là cùng” (tr 29). Chúng tôi bùi ngùi khi đọc lại những lời của người mẹ nói với con" "Mợ mua sách Quốc văn, được sách hay đã đành, dù phải sách dở mợ cũng vui lòng. Mình không có tài làm cho Quốc văn hay đẹp hơn lên, thì phải có chút khuyến khích những người có công quý hoá ấy vậy" (tr. 18). Đừng quên rằng, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã tôn vinh tiếng Việt từ thập niên 40 - lúc mà tiếng Pháp còn ngự trị trong mối quan hệ xã hội. Ngay lúc tiếng Việt còn bị rẻ rúng thì sự mẫn cảm của nhà văn đã giúp cho ông thấy tương lai lớn mạnh tất yếu của nó. Bây giờ, mọi người đang đổ xô nhau học ngoại ngữ như một "mốt" thời thượng, thì truyện Một đứa con đã khôn ngoan đã nhắc nhở chúng ta rất nhiều điều.

Đã từng đọc truyện dài Tấm lòng vàng thì chắc hẳn đã đôi lần chúng ta phải ứa nước mắt trước hoàn cảnh bi đát của cậu học trò tên Đức. Đức có biệt danh vua Zéro vì học dốt. Nào phải vì lười biếng, nhác học đâu, mà vì gia đình nghèo. Bố mất, mẹ đi lấy chồng khác, cậu phải ở trọ. Không có tiền trả, bà chủ sai cậu làm quần quật tối ngày, cậu không có thời giờ ôn bài. Biết chuyện này, một thầy giáo đã âm thầm giúp Đức: mỗi tháng bỏ 3 đồng vào vở để Đức trả tiền trọ. Từ đó, Đức học giỏi hẳn lên. Đây là một câu chuyện cảm động. Cảm động vì thầy thương yêu học trò và sau này, khi công thành danh toại thì học trò tìm cách giúp đỡ lại thầy trong cơn hoạn nạn. "Rồi đây, dù các em có làm nên đến gì, mà dầu chẳng được đội ơn thầy nhiều như anh đây, thì lúc nào cũng nhớ ơn thầy, tức là ơn người cha thứ hai vậy" (tr. 30). Đọc lại vở kịch này, chúng tôi tin rằng, bây giờ trong môi trường sư phạm vẫn còn những tấm lòng cao thượng như thế. Cho dù nó có phai nhạt đi ít nhiều thì sự có mặt của vở kịch Tấm lòng vàng ở thời điểm này vẫn là điều cực kỳ đáng quý và cần thiết trong việc giáo dục thế hệ trẻ.

Trong truyện Đảng Rổ Bẫy thì nhà văn viết về một thiếu niên tên là Tâm. Trên đường trở về nhà, lòng đang nao nức muốn báo tin cho cha mẹ biết là mình vừa đỗ Sơ học yếu lược. Không ngờ, khi đặt chân đến nhà thì nghe tin cha bị bắt vì tội ăn cướp! Thế là Tâm lên tận huyện đường để minh oan cho cha. Lần thứ hai lên gặp quan huyện thì chẳng may Tâm bị đảng cướp Rổ Bẫy bắt cóc. Sau đó, nhờ trí thông minh và lòng dũng cảm, Tâm đã khám phá ra tổ chức của đảng cướp này. Phải thừa nhận rằng, câu chuyện này được nhà văn viết cực kỳ lôi cuốn, đã đọc thì không thể gấp sách lại nửa chừng.

Được sự đồng ý của gia đình nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977), NXB Trẻ tái bản lại bốn tác phẩm này. Chúng tôi tin rằng, những tác phẩm này hoàn toàn phù hợp với lý tưởng giáo dục trẻ em hiện nay.

LMQ


MỘT ĐỨA CON
ĐÃ KHÔN NGOAN



Hôm nay tuy là chủ nhật và trời rét hơn mọi ngày, nhưng Chỉ cũng dậy ngay từ năm giờ.
Anh lấy quyển giấy ráp, cầm ngọn bút chì. Anh đọc đi đọc lại hai dòng đầu bài, gạch những tiếng quan trọng, rồi nhắm mắt, gục mặt vào bàn tay để nghĩ.
Xung quanh anh không có một tiếng động.
Bọn người nhà, người quét dọn, ở tận dưới bếp và buồng khách. Cậu mợ và em Nhật vẫn còn ngủ.
Sự tĩnh mịch giúp anh tìm được rất nhiều ý hay.
Ấy là anh theo phương pháp làm luận của thày giáo vẫn chỉ bảo. Thày thường khuyên học trò khi gặp bài khó, phải làm lúc buổi sớm, là lúc trí não còn trong trẻo. Và dậy sớm, trong mình được khoan khoái và tinh thần sảng khoái, nghĩ gì cũng dễ ra. Thày bảo trước khi làm nên đọc kỹ đầu bài để nhận những ý chính, nếu cần lấy bút gạch để ghi nhớ, rồi hãy tìm tòi ý tứ. Rồi lần lượt biên ngay vào giấy. Khi ý đã nhiều thì nên chọn lọc cho đầy đủ và xếp đặt cho thứ tự. Lúc ấy hãy dàn bài và ráp câu.
Bỗng có hơi thở ấm áp đằng sau cổ. Chỉ ngoảnh lại, thì ra mợ.
Mợ thấy anh chăm chú về công việc, nên đi rón rén đến và yên lặng đứng âu yếm nhìn.
- Con làm gì thế?
- Con làm rédaction[1][1] rédaction: bài luận. đấy mợ ạ.
Mợ mỉm cười:
- Con cứ quen miệng, nói với mợ cũng chen tiếng tây, mợ hiểu sao được.
Chỉ bẽn lẽn:
- Con vẫn biết thế, nhưng sao tránh được. Nó thành thói quen rồi.
Lúc ấy cậu cũng đã dậy, cậu run rẩy vì lạnh, hai tay thọc vào hai túi, hỏi.
- Thói quen gì?
Mợ đáp:
- Thói quen là nói chuyện với tôi cứ chen tiếng tây vào.
Cậu gật:
- Thói quen đó rất thông thường của những người biết tiếng Pháp.
Thấy cậu bênh, Chỉ bèn gỡ:
- Nói như thế, nó nhanh hơn bằng câu toàn tiếng ta, cậu nhỉ.
Mợ vuốt tóc anh, dịu dàng giảng:
- Nhưng đó là một thói xấu. Không ai nên mắc phải cả. Hôm nọ mợ thấy con mắng em Nhật chỉ tại em không hiểu con định nói gì , vì con cũng chen tiếng tây. Chính mợ cũng không hiểu. Những tiếng tây con vừa nói với mợ đều có thể thay bằng tiếng ta. Vậy sao con không tập nói chuyện bằng
tgoàn tiến ta. Mợ chẳng hạn, và bao nhiêu người không
biết tiếng tây, sao vẫn nói chuyện được với nhau, mà nhanh chóng như thường.
Cậu vò đầu Chỉ, chế nhạo:
- Thế cu cậu đuối lý rồi.
Rồi cậu bảo mợ:
- Thôi đi rửa mặt cho con làm việc, kẻo nó lại bắt đền.
Khi trong buồng yên lặng, Chỉ lại cặm cụi làm việc. Anh mở các sách in, đọc hết bài này đến bài khác, để tìm ý.
Rồi xếp đặt ý xong, anh mới ráp bài.
Bỗng mợ gọi:
- Chỉ ơi, hãy nghỉ tay «măng giê»[2][2] Manger: Ăn. đã.
Anh bật cười, vâng một tiếng toan đứng dậy. Nhưng chợt nghĩ ra được một câu hay, anh vội vàng lại ngồi xuống để viết. Rồi hết câu nọ đến câu kia, anh đã ráp trọn được đoạn mở bài và đoạn kết cục. Cách làm ấy, anh cũng theo phương pháp của thày giáo chỉ bảo. Còn đoạn giữa là đoạn chính, anh định ăn sáng xong mới làm.
Anh đứng dậy, vừa đi vừa bần thần nghĩ ngợi.
Cậu mợ vẫn chờ anh, đương đùa vui vẻ với em Nhật. Thấy anh đến, mợ nhìn anh và bảo:
- Nào «măng giê», tôi còn phải đi «chợ-trờ-rờ» nữa đây.
Cả nhà lại cười.
Ăn vội vàng vài miếng nữa, Chỉ đứng dậy, lại hấp tấp ngồi vào bàn giấy làm việc.
Anh thực là một người học trò chăm chỉ
Vì sự siêng năng, nên anh thi gì cũng đỗ ngay. Kỳ Sơ học Yếu lược, Sơ học Pháp việt, anh đỗ một cách dung dị đã đành, đến cả những kỳ thi khó khăn vào học lớp nhì năm thứ nhất bậc sơ học và năm thứ nhất bậc Cao-đẳng tiểu học, nhiều thí sinh mà số người lấy vào rất ít, anh cũng đỗ cao.
Anh chỉ phải một tội vô tâm, lúc nói với mợ, hoặc bất cứ ai, dù người không hiểu tiếng Pháp, cũng cứ chen một vài tiếng tây vào. Cái đó mợ bảo luôn, nhưng anh cũng không giữ được. Anh quen miệng đi mất rồi. Anh nhận thấy chẳng những một mình anh, các bạn anh, và bất cứ một ai đã học tiếng Pháp, đều có tật ấy.
Anh thấy nói như thế dễ dàng hơn là nói toàn tiếng Nam.
Vì anh đỡ phải tìm tiếng cho đúng để diễn đạt tư tưởng. Chữ Pháp anh sẵn có, thì câu nói có xen một vài tiếng Pháp, anh cũng hiểu như nói toàn tiếng Nam. Vả anh thấy tiếng ta thiếu rất nhiều để diễn tả cho đủ ý.
Ở trong lớp, anh vốn nổi tiếng giỏi Pháp văn. Kỳ luận Pháp văn nào anh cũng được thày khen, và bình bài lên cho cả lớp nghe. Anh ước rồi cậu mợ cho anh sang Pháp, học tập ở các trường cao đẳng mà anh thường được biết tên.
Cho nên anh luyện Pháp văn một cách rất chăm chú.
Không môn học nào anh mất nhiều công phu bằng môn học ấy.
Anh ngồi làm luận Pháp văn thì không thấy mỏi, thấy nóng ruột một tí nào. Dù hai giờ, dù ba giờ, dù cả buổi sáng, dù lan sang cả buổi chiều, anh cũng vẫn chăm chú. Khi một bài được hoàn toàn anh mới vui vẻ và yên tâm.
Nhưng lần này mới mười rưỡi, anh đã ráp xong bài. Anh chưa đọc lại và chép ra giấy. Anh muốn thí nghiệm một lối làm việc mới. Là để độ hai ba giờ sau hãy đọc lại. Và trong thì giờ ấy, anh làm những việc khác cho quên đi. Như vậy tức là anh làm hai bài trong lúc tinh thần minh mẫn.
Đặt bút xuống bàn, anh mỉm cười nhìn ra ngoài trời trắng đục. Thời tiết hẹn một tuần mưa dầm lâu dài.
Bỗng vú già đi qua, anh hỏi:
- Gần được cơm chưa, hở vú?
- Độ nửa giờ nữa, chú ạ.
Anh khoan khoái. Anh đương nghĩ không biết dùng thì giờ rỗi để làm gì, thì sực nghĩ đến bài luận Quốc văn chưa được một chữ.

Anh bèn lấy giấy, mở sách chép đầu bài, rồi chẳng cần ráp, viết lia lịa trong mười phút, được mười lăm dòng. Anh đánh dấu chấm hết.
«Miễn là có bài nộp khỏi phải phạt.»
Nghĩ vậy, anh nhìn đồng hồ. Chợt nhớ đến bức thư của
Hà, người em họ, nhận đã lâu mà chưa trả lời, anh đọc lại thư, rồi lấy giấy.
Hanoi 13 Février 1942
Cher Hà
Hẳn Hà lấy làm ngạc nhiên vì lần này anh viết cho Hà bằng chữ quốc ngữ. Không phải anh négliger về français[3][3] négliger về français: chểnh mảng về Pháp văn. đâu, nhưng vì sáng nay, anh mới phải làm bài réduction lâu thì giờ quá.
Anh đã gặp Kính petit frère de Tùng[4][4] petit frère de Tùng: em trai của Tùng. rồi. Anh thấy nó giống Tùng như hai giọt nước.
Anh đã đem câu thứ nhất Hà dặn hỏi, thì nó câm như cá chép. Cho nên anh không hỏi nó câu deuxième question[5][5] deuxième question: câu hỏi thứ hai. nữa. Thôi, thế là anh em nó déclarer vaincus[6][6] déclarer vaincus: Tuyên bố thua cuộc. rồi, vậy Hà cũng nên pardonner[7][7] pardonner: tha thứ. cho họ.
Vậy thế là tranquille[8][8] tranquille: yên tâm. nhé. Không có lửa thì sao có khói nhỉ. Thôi, anh chúc Hà bonne santé[9][9] bonne santé: sức khỏe. .
Ở đây bình yên. Duy hôm nọ ma mère[10][10] ma mère: mẹ. hơi bị malade[11][11] malade: đau. bởi refroidissement[12][12] refroidissement: bị lạnh. nhưng hôm nay đã rétablie[13][13] rétablie: Khỏe. rồi.
A bientôt[14][14] A bientôt: tạm biệt.

CHỈ

Chỉ vừa ký tên xong, thì mợ đã đứng cạnh:
- Con tôi chăm quá. Phải nghỉ để giải trí rồi ăn cơm chứ?
- Vâng. Nhưng đây là con viết lettre, à quên viết thư cho Hà.
Mợ gật:
- Ừ mợ cũng toan nhắc con, sợ con quên.
Rồi mợ liếc nhìn vào giấy mỉm cười:
- À, lần này con viết bằng quốc ngữ. Thử đọc mợ xem có thông không nào.
Chỉ luống cuống, nhìn mợ có ý ngượng nghịu. Anh vội vàng lấy giấy thấm đặt lên bức thư, rồi đứng dậy trước mặt mợ, để mợ khỏi nhìn thấy chữ và đọc:
- Hà-nội ngày 13 Février 1942. Em Hà, hẳn lấy làm ngạc nhiên vì lần này anh viết cho Hà bằng chữ quốc ngữ. Không phải nhãng bỏ Pháp văn đâu, nhưng vì sáng nay, anh mới phải làm bài luận lâu thì giờ quá. Anh đã gặp Kính, em Tùng rồi. Anh thấy nó giống Tùng như hai giọt nước.
Bỗng mợ rũ ra cười:
- Thế nào, giống Tùng như gì?
Chỉ nhắc lại:
- Như hai giọt nước.
Mợ vẫn cười:
- Con nói giọng gì thế?
Rồi mợ nói:
- Ừ, hai giọt nước thì giống nhau thực, nhưng hình như người ta không nói thế mà?
- Vâng, người ta chẳng nói ressembler comme deux gouttes d’eau là gì?
- À, thế thì người ta của con khác, người ta của mợ khác. Người ta của mợ chỉ nói giống nhau như đúc mà thôi. Nhưng thôi cũng được, đọc nốt đi.
Chỉ đọc:
- Anh đã đem câu thứ nhất Hà dặn hỏi, thì nó câm như cá chép.
Bỗng mợ lại rũ ra cười:
- Câm như cá chép. Sao con khéo bịa ra văn chương thế.
- Thưa mợ con đâu dám bịa, người ta nói muet comme une carpe nghĩa là câm như cá chép.
- À, thế con dịch đúng tiếng tây. Nhưng con có biết ta nói câm như gì không?
Chỉ đưa mắt nhìn lên trần, chớp mắt để nghĩ ngợi. Một lát, anh lắc đầu:
- Con không biết.
- Người ta bảo câm như thóc, câm như hến. Con viết tiếng ta thì nên dùng toàn giọng ta. Nếu con viết câm như cá chép, giống nhau như hai giọt nước, thì ra con viết tiếng ta bằng chữ Pháp. Con dịch chữ Pháp ra tiếng ta. Như thế không được. Giống nhau như hai giọt nước với giống nhau như đúc, câm như cá chép với câm như hến hoặc như thóc. Hai lối nói cũng hay ngang nhau. Vậy ta có lối nói văn vẻ, sao con không dùng.
- Thưa mợ, tại con không biết.
- Con không thể không biết. Con phải biết câu câm như thóc hoặc như hến trước, rồi con hãy nên biết đến câu câm như cá chép mới phải. Tức là con phải hiểu câm như con cá chép nghĩa là câm như hến hoặc như thóc, để khi nói tiếng pháp thì dùng câu trên, mà khi nói tiếng ta thì dùng câu dưới. Trong thư còn gì nữa, đọc nốt rồi đi ăn cơm.
Chỉ đọc:
- Cho nên anh không hỏi câu thứ hai nữa. Thôi, thế là hai anh em nó...
Chỉ ngắt lại không đọc nữa. Muốn chừng anh đương tìm tiếng ta để dịch cho lọn hai tiếng déclarer vaincus. May quá, lúc ấy mợ không để ý nghe lắm, nên anh đọc ngay xuống câu dưới:
- Vậy Hà cũng nên tha thứ cho họ. Vậy thế là yên tâm nhé. Không có lửa thì sao có khói nhỉ.
Mợ lại gắt:
- Thế nào?
- Không có lửa thì sao có khói nhỉ.
Mợ nghĩ, rồi gật đầu:
- Câu ấy đúng ý đấy, nhưng sao nó ngô nghê thế. Hẳn lại là một câu tiếng Pháp mà con dịch ra.
- Vâng, đó là một câu phương-ngôn Pháp.
- Vậy thế con có biết ta cũng có câu phương-ngôn về ý ấy hay không?
- Thưa có. Thế gian chẳng ít thì nhiều, không dưng ai dễ đặt điều cho ai.
- Sao con không dùng câu này có hơn không?
Chỉ bối rối:
- Con quên.
- Thôi được, đọc nữa đi.
Chỉ nối:
- Thôi, anh chúc Hà mạnh khỏe. Ở đây bình yên. Duy hôm nọ mẹ tôi bị ốm bởi lạnh, nhưng hôm nay đã khoẻ rồi.
- Thế nào, mẹ tôi bị ốm bởi lạnh à? Mợ không hiểu nói ý ấy thì phải đặt tiếng tây thế nào, nhưng mợ chắc con lại dịch theo tiếng tây đây. Sao con không gọi mẹ tôi là mợ anh, hoặc bác, có thân hơn không. Mà bị ốm bởi lạnh à? Sao con không nói là bác khó ở vì cảm hàn?
Lúc ấy cậu vừa đến. Cậu hỏi:
- Thế nào, ai cảm hàn?
- À, con nó viết cho cháu Hà, nhưng dùng tiếng ta không thông. Tôi không hiểu nó đặt câu tiếng ta không thông, thì viết tiếng tây thông thế nào được nhỉ.
Cậu hỏi:
- Đâu, đưa thư cậu đọc xem thế nào mà mợ kêu nào.
Chỉ không thể giấu được nữa. Anh phải đưa thư cho cậu.
Cậu đọc xong, không bình phẩm gì, chỉ nói:
- Thôi, muộn rồi, đi ăn cơm.
Chỉ sung sướng. Cậu đã hiểu cho anh rồi. Anh vui vẻ theo cậu mợ ngồi vào bàn ăn.
Vú già xới cơm xong, cậu nhìn bát cơm trắng, khói nghi ngút, tỏa một mùi thơm, bèn hỏi vú già:
- Vú già, nồi cơm hôm nay thổi bởi ai, mà trông có vẻ tốt ăn lắm.
Vú già bưng miệng, quay đi để cười.
Mợ ngớ mặt ra nhìn cậu.
Chỉ thấy cậu nói ngô nghê cũng nhếch mép.
Nhưng cậu nghiêm trang, bảo Chỉ:
- Đấy con xem, con và vú già thì cười cậu, mà mợ thì có ý ngạc nhiên. Là vì cậu đã nói một câu bằng tiếng An-nam, nhưng nó không An-nam một tý nào. Con học tiếng Pháp, con chăm về Pháp văn là phải, nhưng không nên sao nhãng tiếng ta.
Chỉ không đáp, Cậu tiếp:
- Ta có tiếng nói riêng. Bổn phận ta là phải giữ lấy tiếng ta, vì tiếng ta tức là tinh thần nước ta. Cậu nói nồi cơm thổi bởi ai, trông có vẻ tốt lắm, thì cũng có thể hiểu được, nhưng người Nam mình không nghe quen. Mình phải nói tiếng Nam theo giọng Việt-Nam mới được.
Chỉ cảm động:
- Tại con học chữ Pháp, nên con hay nghĩ theo giọng Pháp.


- Con nghĩ theo giọng Pháp khi con dùng tiếng Pháp thì rất tốt. Nhưng khi nói tiếng Nam, mà con cũng nghĩ theo thế, tức là con dịch ở tiếng Pháp. Vậy con là ông Tây nói tiếng An-nam mất rồi.
Cả mợ lẫn Chỉ cùng cười. Rồi Chỉ nói:
- Nhưng con thấy tiếng ta nhiều khi thiếu từ để dùng.
Cậu lắc đầu:
- Con thấy thiếu chứ tiếng ta không thiếu. Nếu thiếu chăng, thì nó thiếu ở những ý mới, vật mới xưa kia không có. Còn những ý cũ, vật cũ thì tiếng ta vẫn đủ như thường. Xem ngay như về gia đình, ta có biết bao nhiêu tiếng: kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, chắt, chút, chú, bác, cậu, mợ, dì, cô, thím, âu-yếm, yêu, thân, hiếu, đễ, từ, và biết bao nhiêu tiếng nữa. Lại như nói cách mang đồ đạc, ta có đội, gánh, xách, vác, cầm, khênh, ôm, cõng, bê, tải, cắp, khuân, bế, mỗi tiếng một nghĩa riêng.
Nghe cậu nói một thôi một hồi, Chỉ phì cười. Cậu cũng cười:
- Thế mà tiếng Tây phải chắp vào một tiếng gốc. Vả lại tiếng ta nói rất văn vẻ. Ví dụ hai tiếng cánh buồm, thì cậu tưởng văn chương đến thế là bóng bẩy, nhưng ta thì để nói thường. Cậu dám đánh cuộc với các ông cử, ông nghè tây dùng tiếng Pháp mà dịch nổi tiếng «lôi thôi» của ta đấy.
Mợ cười:
- Ừ, tiếng lôi thôi mà cắt nghĩa thì nó dài biết nhường nào! Cho nên muốn giỏi tiếng nước ngoài hãy nên giỏi tiếng nước ta đã.
Cậu gật đầu:
- Bởi vì tiếng nước ta, ta phải trọng và phải yêu trước hết. Nhiều lần mợ bảo con không nên nói tiếng Pháp xen vào tiếng ta là chí phải. Không gì ngô nghê hơn là bức thư con vừa viết cho em Hà. Đầu tiên, cậu thấy chữ Hanoi, cậu đã không bằng lòng rồi, phải viết Hà-nội làm hai chữ, đánh dấu quốc ngữ cho đúng. Bởi vì những cái ấy là của mình. Người ta viết lầm, đọc sai, mình còn nên uốn nắn lại cho đúng, huống chi mình lại bắt chước sự sai lầm của người ta.
Mợ tiếp:
- Thật thế bây giờ tôi đọc sách, đọc báo thấy chữ Mỹ Thọ, Thủ đầu một, Phủ Quốc, Phú lãng Thượng, Phủ Liễn, Chobo, Viétri, Núi Đèo mà tôi đâm bực mình. Tôi ước gì người ta viết cho đúng để trẻ con đọc đỡ sai.
- Cứ gì trẻ con, cả người lớn nữa.
Nghe từng ấy tiếng, Chỉ hiểu đọc chữ Phú lãng thượng là người đọc lầm chữ Phủ lạng thương, còn những chữ khác anh cho là mợ bẻ sai. Anh không dám cãi, nhưng cũng không dám hỏi. Thì Cậu nói ngay:
- Con học sách Địa dư và Sử ký của ta do người Pháp làm, phải nên coi chừng những chỗ viết sai, hoặc những chữ theo âm Pháp. Ví dụ trong Trung-kỳ có cái đảo nhiều rừng quế, người ta gọi là Hòn Quế, hòn tức là đảo, thì trên địa đồ đề là Hone Koé, đảo Cái Bầu, trên địa đồ là đề Kébao; cũng như xem sách người Pháp làm về phong tục xứ mình, mình phải biết chỗ nào là đúng, chỗ nào là hỏng...

* * *

Tuần lễ ấy, cũng như mọi tuần lễ trước, Chỉ được nhất luận Pháp văn và phải bét luận Quốc văn.
Nhưng khác mọi khi, Chỉ thấy xấu hổ về điểm kém của bài sau hơn là sung sướng về điểm hơn của bài trước.
Những tiếng bạn khen là văn-sỹ tây không làm anh vui vẻ và hãnh diện nữa.
Anh đọc lại bài luận Quốc văn của anh, rồi mượn bài của Thấn được nhất. Anh bật cười, thấy bài mình ngắn ngủi. Hai bài hơn kém nhau mười điểm, chỉ vì một bài làm kỹ lưỡng, một bài làm dối dá. Chứ những câu bạn đặt cũng rất thường, không chỗ nào cầu kỳ, không chỗ nào dùng chữ nho, hoặc điển tích khó hiểu.
«Nếu vậy, muốn hơn điểm, có khó khăn gì.»
Anh quyết rằng nếu để ý làm cẩn thận trong mười lăm phút nữa, thế nào cũng được từ mười điểm trở lên, nghĩa là hơn hẳn sáu bảy điểm.
Rồi anh nghĩ đến công phu và thì giờ làm luận Pháp văn. Anh phải dùng công phu và thì giờ gấp mười, có khi hơn thế nhiều, mà kết quả chỉ hơn anh em độ ba bốn điểm. Vậy từ trước đến nay, sao anh cứ chuộng cái khó mà bỏ cái dễ. Chẳng hoá ra dại lắm du.
Nhưng suy xét kỹ, anh thấy anh không dại. Bài thi nào Pháp văn cũng làm nền tảng. Kém Pháp văn, thì dù môn khác giỏi mười mươi cũng bằng thừa.
Ở trong lớp, thỉnh thoảng anh có thử nghe thày giáo giảng
những đoạn thơ và văn xuôi. Nhưng anh thấy nó thế nào. Thơ thì khó hiểu, mà văn xuôi thì rất tầm thường. Cho nên anh chỉ dùng giờ Quốc văn để xem trộm tiểu-thuyết Pháp, hoặc làm tính, hoặc nói chuyện với bạn ngồi cạnh.

* * *

Hôm ấy bắt đầu nghỉ hè. Cậu bảo Chỉ:
- Ba tháng nghỉ, con không phải trả tiền học, vậy cậu cho con mỗi tháng bốn đồng, tùy con muốn mua sách vở hay đồ chơi thì mua.
Nói rồi, cậu mở ví tiền đưa cho anh .
Chỉ hớn hở, mặc áo ra phố. Lúc về, anh cắp một gói, mở ra, toàn tiểu-thuyết Pháp.
Anh hăm hở, lấy dao rọc từng tờ, rồi đọc miệt mài.
Mới hơn tuần lễ, anh đã ngốn hết mấy cuốn ấy. Anh lại buồn. Em Nhật bé hơn anh nhiều, nó trẻ con không hợp với tuổi anh. Cho nên anh chỉ đùa với nó bền lắm là mười lăm phút.
Một hôm, nhận được giấy của nhà trường, cậu xem rất kỹ, rồi bảo:
- Chỉ ạ, kỳ thi cuối năm vừa qua, các bài về khoa học và toán pháp con bị kém, vậy nhân bây giờ nhiều thì giờ, con nên cố gắng về các môn ấy.
Anh thấy cậu không được vui, nên vâng ngay. Anh quyết định, từ hôm sau, mỗi ngày làm một vài bài tính, và để ra hai giờ học lại các bài khoa học, và xem rộng ra cho hiểu thấu hơn.
Nhưng khi mở sách, mới đọc qua đầu bài tính, anh đã chán nản. Anh cố gắng nghĩ, vì bài hơi khó. Anh thở dài. Thì té ra anh đi học từng ấy năm, chưa được chút lợi nào, bởi đã chểnh mảng khoa học.
Khoa học tức là cơm. Văn chương chỉ là áo. Kẻ khó cần xin cơm, chứ chưa có người hành khất nào đi ăn mày áo bao giờ. Khoa học mới đem đến cho ta sự sống.
Anh thở dài lại cặm cụi với những con số trên mảnh giấy.
Đến hơn nửa giờ anh nhăn trán để nghĩ nhưng không làm nổi bài tính.
Anh bèn đến chơi nhà bạn để hỏi. Lúc hiểu, anh sung sướng quá, rồi nhân thấy mấy cuốn tiểu thuyết Pháp, anh mượn về.
Anh lại nhãng bỏ khoa học để ngấu nghiến đọc truyện.
Anh thấy văn chương bao giờ nó cũng thấm thía vào tâm hồn. Còn khoa học, nó khô khan, khó chịu lắm.

* * *

Cuối tháng ấy, cậu lại cho anh bốn đồng nữa, và anh lại dùng để mua sách.
Nhưng mợ dặn anh chọn cho mợ một cuốn sách Quốc văn mới xuất bản. Anh cười:
- Con có biết sách thế nào là hay đâu?
- Thế con mua sách tây thì làm thế nào?
- Con tìm tên người làm sách nổi tiếng, hoặc thấy tên sách hay, hoặc đọc qua trang đầu, cũng có thể đoán được.
- Vậy mua sách cho mợ, con cũng làm như thế.
- Nhưng văn sỹ Việt-Nam làm gì có ai nổi tiếng?
- Ô, biết bao nhiêu người bây giờ viết rất hay.
- Thế a, mợ?
Nhưng anh vẫn hồ nghi. Anh cho là truyện của người Việt-Nam viết gọi là hay, nhưng hay sao bằng truyện tây. Có chiều lòng mợ mà anh phải mua một quyển thì mua, chứ anh tiếc tiền lắm. Anh hỏi:
- Mợ ạ những truyện của ai viết thì nên mua?
Mợ bèn kể một ít tác-giả quen tên để anh biên vào mảnh giấy, rồi mợ dặn:
- Nhưng bất cứ, có nhiều tên ký rất lạ ở những truyện rất hay, không biết chừng.
- Thôi con không biết chọn sách Quốc ngữ đâu. Con cứ theo tên biên đây mà mua vậy.
- Cũng được.
Anh bèn mặc quần áo, lên hiệu sách tây. Anh mua mất ba đồng sáu, vì anh chắc sách ta bán rẻ, độ ba bốn hào là cùng. Anh rất bằng lòng mấy cuốn mới này. Cuốn thì anh vẫn ao ước được đọc. Cuốn thì của tác-giả nổi tiếng.
Anh đến phố ta vào một hiệu sách Quốc văn.
[...]

----------------------------------------
[1]. Rédaction: bài luận.
[2]. Manger: Ăn.
[3]. négliger về français: chểnh mảng về Pháp văn.
[4]. petit frère de Tùng: em trai của Tùng.
[5]. deuxième question: câu hỏi thứ hai.
[6]. déclarer vaincus: Tuyên bố thua cuộc.
[7]. Pardonner: tha thứ.
[8]. tranquille: yên tâm.
[9]. bonne santé: sức khỏe.
[10]. ma mere: mẹ.
[11]. malade: đau.
[12]. refroidissement: bị lạnh.
[13]. Rétablie: Khỏe.
[14]. A bientôt: tạm biệt.

Mời bạn đọc mua sách tại: CÔNG TY TNHH SÁCH ĐIỆN TỬ TRẺ YBOOK

Thứ Tư, ngày 22 tháng 6 năm 2016

Một lần nói… ngắn


Một lần nói… ngắn

CHUYỆN VUI VỀ NHÀ THƠ KHƯƠNG HỮU DỤNG

CANH TIẾN (Theo Tường Duy)

Trong đời thường già Khương hay nói dài, nói dai nhưng trái lại có lần trên diễn đàn cụ lại nói ngắn. Một lần nhà thơ Khương Hữu Dụng cùng nhà văn Nguyễn Công Hoan sang thăm Liên Xô, khi được Đài phát thanh Mátxcơva mời phát biểu, trong khi cụ Hoan phát biểu khá dài thì cụ Dụng lại nói... ngắn. Vì nói ngắn nên nhuận bút Đài trả cho cụ ít hơn cụ Hoan.

Vốn sẵn tài trào phúng, Nguyễn Công Hoan đã làm mấy câu thơ "trêu" già Khương như sau:

Mang tiếng xưa nay vẫn nói dài
Cớ sao lại nói ngắn trên đài?
Mới hay dài ngắn là may rủi!
Được mấy đồng thôi phí cả tài


CANH TIẾN
(Theo Tường Duy)


Chủ Nhật, ngày 19 tháng 6 năm 2016

Hỏi chuyện các nhà văn

Đọc sách


Hỏi chuyện các nhà văn


Giới thiệu

Cuốn sách ghi lại những cuộc trao đổi rất thú vị của nhà văn Nguyễn Công Hoan - một bậc thầy của văn xuôi Việt Nam hiện đại với 6 nhà văn hàng đầu cùng thời với ông - Nguyễn Đình Thi, Chu Văn, Bùi Hiển, Tô Hoài, Tú Mỡ, Tế Hanh - về kinh nghiệm viết văn, nghệ thuật thơ, về sự giàu có và vẻ đẹp tuyệt vời của Tiếng Việt...

Bằng lối viết chân thực, giản dị, giàu chất u-mua, tác giả đã biến những vấn đề lý luận khô khan thành những câu chuyện dễ hiểu, hài hước mà sâu sắc như đọc chính những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan vậy.



Tác giả: Nguyễn Công Hoan.
Nhà xuất bản: NXB Kim Đồng
Nhà phát hành: NXB Kim Đồng
Mã Sản phẩm: 8935036610652
Khối lượng: 220.00 gam

Định dạng: Bìa mềm
Kích thước: 12.5 x 20.5 cm
Ngày phát hành: 04/2009
Số trang: 252



Đọc thử trích đoạn

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 6 năm 2016

Tô Hoài và những người thầy văn chương


Kỷ niệm một năm nhà văn Tô Hoài ra đi:
Tô Hoài và những người thầy văn chương

Hợp tác cùng Thời Nay


Nhận xét về Tô Hoài, Vũ Ngọc Phan khẳng định: “Tiểu thuyết của Tô Hoài cũng thuộc loại tả chân như của Nguyễn Công Hoan, nhưng Nguyễn Công Hoan ngả về hoạt kê, còn Tô Hoài có khuynh hướng xã hội".

Nhà văn Tô Hoài

Thứ Sáu, ngày 10 tháng 6 năm 2016

Trích từ bài "Ông thần ngông Tản Đà qua giai thoại" của TS. Nguyễn Xuân Lạc


2. Tản Đà với các bạn văn chương

TS. Nguyễn Xuân Lạc


Tản Đà có nhiều bạn văn chương. Bạn cùng lứa như Ngô Tất Tố sinh năm 1892, chỉ kém ông ba tuổi; bạn vong niên kém ông mười đến hai mươi tuổi như Tú Mỡ (sinh năm 1900); Nguyễn Công Hoan (1903); Nguyễn Tuân (1910),... nhưng tất cả đều là những người bạn tri âm tri kỉ của Tản Đà, được ông dìu dắt, giúp đỡ trên con đường văn nghiệp và để lại nhiều giai thoại thú vị trong “làng văn” những thập niên đầu thế kỷ XX. Tất cả ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của Tản Đà, có những người chịu ảnh hưởng khá sâu sắc như Nguyễn Tuân.

Nguyễn Công Hoan biết Tản Đà năm 1916 khi mới là cậu bé 13 tuổi, nhưng đã lọt vào “mắt xanh” của nhà thơ. Có lần Tản Đà xoa đầu Hoan và nói: “Cậu bé này thông minh lanh lợi lắm. Tôi đoán chắc sau cậu bé sẽ trở thành một nhân tài”. Có thể nói, Nguyễn Công Hoan đến với văn học bắt đầu từ Tản Đà, đi vào đời văn cũng từ Tản Đà. Chính Tản Đà là người đã mở mục “Việt Nam nhị thập thế kỉ, xã hội ba đào kí” trên An Nam tạp chí và khuyến khích Hoan viết cho mục này theo lối văn hiện thực phê phán mà hồi đó gọi là văn tả chân.


Từ đây, ngòi bút hiện thực của Nguyễn Công Hoan mới dần dần được khẳng định, và mấy chữ “ba đào kí” đã trở thành tên gọi để chỉ truyện Nguyễn Công Hoan, như Hai thằng khốn nạn, Ván cách, Ngựa người và người ngựa, Răng con vật nhà tư bản, Bố anh ấy chết, v.v. Riêng truyện Ngựa người và người ngựa, có một giai thoại thú vị giữa nhà thơ và nhà văn. Lần đó, Tản Đà về thăm ông anh vợ ở phố Hàng Bông, sau nhà là phố Phủ Doãn (Hà Nội). Một đêm Tản Đà ra sân thượng, thấy một phu xe đòi tiền xe một gái giang hồ, cô này không có tiền trả, mới nói: “Tôi đây, anh muốn làm gì thì làm!”. Tản Đà kể lại câu chuyện cho Hoan nghe và gợi ý để Hoan viết thành Ngựa người và người ngựa. Truyện Chữ trinh của Hoan được Tản Đà khen, nhưng góp ý sửa lại và thay tên Chữ trinh bằng tên Oẳn tà roằn. Còn khi Tản Đà đọc bài thơ Thề non nước cho Hoan nghe thì nhà văn đã sửa câu “Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày” thành “Suối khô dòng lệ...”. Những chuyện thân mật như thế giữa đôi bạn văn chương có rất nhiều mà trên đây chỉ là vài giai thoại tiêu biểu.



Thứ Ba, ngày 05 tháng 4 năm 2016

Hồi ức về nhà văn Nguyễn Công Hoan


Ba chữ "Nguyễn Công Hoan" đã đi vào ký ức tôi từ hồi nhỏ. Ngày còn là học sinh cấp I, bọn chúng tôi đã truyền nhau đọc cuốn Tấm lòng vàng. Sách nhàu nát, tả tơi, thiếu hàng mấy trang, mò từng đoạn chữ, nhưng tôi vẫn rất thích và cứ tưởng tượng ông Nguyễn Công Hoan là thầy giáo Chính, người đã giúp anh học trò nghèo, tên là Đức, mỗi tháng ba đồng để anh này học thành tài.