Ads 468x60px

.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan




Nguyễn Công Hoan là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam.

Ông sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên,
mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội.


Các bạn có thể đọc tại đây (lấy trên Internet)
- Các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan,
- Các bài viết về Nguyễn Công Hoan.

Xem: Bách Khoa Toàn Thư
♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣ ♣


Video: Nhà văn Nguyễn Công Hoan (Thực hiện: Trí Dũng, Ngọc Oanh, Huy Hoàng, Thúy Lành, Thùy Trang, Tuấn Anh - Trang thông tin điện tử Đài Phát thanh & Truyền hình Hưng Yên)

Featured Posts





Thứ Hai, ngày 31 tháng 10 năm 2016

Quả mít


Một đám cưới

Cảm nhận về tác phẩm Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan


Cảm nhận về tác phẩm Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

Học Tốt Ngữ Văn


Đề bài: Cảm nhận về tác phẩm Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan
Bài làm

Danh tiết





Danh tiết

Nguyễn Công Hoan

Có trong: Tiểu Thuyết Nguyễn Công Hoan -
(NXB Thanh Niên 2004 - Nguyễn Công Hoan - 623 Trang)



Nguyễn Công Hoan là nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Trong suốt cuộc đời của mình, Nguyễn Công Hoan đã để lại một di sản nghệ thuật với hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung tiểu thuyết "danh tiết" nổi tiếng qua phần 2 cuốn sách.






Tranh tối tranh sáng


>







Tranh tối tranh sáng

Nguyễn Công Hoan

Có trong: Tiểu Thuyết Nguyễn Công Hoan -
(NXB Thanh Niên 2004 - Nguyễn Công Hoan - 623 Trang)



Cuốn "Tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan" do NXB Thanh niên ấn hành giới thiệu tới người đọc 2 tiểu thuyết tiêu biểu nhất nhà văn Nguyễn Công Hoan là Tranh tối tranh sáng và Danh tiết.







Thứ Bảy, ngày 25 tháng 6 năm 2016

Trách nhiệm đạo đức xã hội của người cầm bút


Trách nhiệm đạo đức xã hội của người cầm bút

Minh Hải

Trích

Văn học và xã hội

Văn học bắt nguồn từ đời sống xã hội, chịu sự chi phối của những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Văn học phản ánh thực tại đời sống, nó là một hình thái ý thức xã hội. Không có thứ văn học nào đứng ngoài xã hội, chính trị, kinh tế.
Để định giá tác phẩm văn học và định vị những đóng góp của chủ thể sáng tạo đối với lịch sử văn học dân tộc, không thể không xét tới chức phận của nó đối với cái xã hội sinh ra nó, mang lại ý nghĩa cho nó.
Chức năng của văn học trước hết là phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân, dân tộc. Lý giải nét đặc sắc và sức sống của văn chương Nguyễn Công Hoan, trong một bài viết cách nay 30 năm, Nguyễn Minh Châu cho rằng: Ở cái buổi giao thời biết bao sự mời gọi tưởng rất khó cưỡng nổi của văn hóa ngoại lai, đứng trước nguy cơ bật gốc trốc rễ hồi đầu thế kỉ XX, Nguyễn Công Hoan là một cây bút giàu bản lĩnh.
Bài học kinh nghiệm mà cây bút trào phúng bậc thầy này để lại là: “đừng bao giờ lười biếng nằm ỳ ra trên trang viết như một sự tự khuôn định, và cũng đừng bao giờ để cho văn chương trở nên xa lạ với đời sống dân tộc mình”.
Ở trong con người nhà văn Nguyễn Công Hoan có một thứ “bản năng tinh thần dân tộc mạnh mẽ”, ông thường xuyên mô tả các nhân vật của mình “bằng ngôn ngữ dân tộc, bằng lối nói nôm na đầy ý vị của người Việt Nam”; “đối với một đời văn, cái đáng kể là những điều nhà văn ấy đã làm được cho đời”, Nguyễn Công Hoan là “người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng cho nền văn xuôi hiện thực phê phán”, ông “ra đời như một tác giả truyện cười dân gian, mà ngày xưa thời nào trong nông thôn ta cũng có”.

Để tạo ra cái mới, làm giàu thêm truyền thống văn học dân tộc, nhà văn có thể chỉ cần đi sâu vào văn hóa dân tộc mình, trở về với suối nguồn tư duy dân gian, ngôn ngữ dân gian, với lời ăn tiếng nói hàng ngày.




Để thực hiện chức phận đối với xã hội, văn học không chỉ tin tưởng vào con người, bênh vực con người, phê phán cái xấu, cảnh tỉnh người đọc, mà còn góp phần xác lập, duy trì và phát triển những chuẩn mực đạo đức trong xã hội hiện đại.
Thiên chức của nhà văn là tạo ra cái đẹp giàu giá trị thẩm mỹ và nhân văn. Qua hình tượng thẩm mĩ độc đáo, văn chương khơi gợi ở người đọc những cảm xúc nhân văn, dẫn dắt người đọc đến chân trời mĩ cảm cao đẹp.
Nhưng để làm tốt trách nhiệm đối với xã hội, trước hết nhà văn phải làm tốt trách nhiệm với chính mình, có trách nhiệm đối với những gì mình viết ra, với bạn đọc của mình, đối với chính nghề viết của mình.
Nhà văn phải thành thực với bản thân và trung thực với sự thật.Trách nhiệm đạo đức xã hội của người cầm bút

Nhiều giá trị cốt lõi, đức tính tốt đẹp của dân tộc chịu sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và bối cảnh hội nhập; đạo đức ngành y xuống dốc khiến nhiều người phẫn nộ; đạo đức học đường trở thành vấn đề đáng lo ngại của cả xã hội;
đạo đức gia đình, những giá trị truyền thống đẹp đẽ của gia đình bị băng hoại; nhiều người trẻ thiếu lý tưởng, sống ích kỉ, thực dụng, thích hưởng thụ, đua đòi, lệch lạc; không ít người ở độ tuổi trưởng thành cũng sống thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội;
hiện tượng máu lạnh giết người không ghê tay, mất hết nhân tính có chiều hướng gia tăng, lương tâm con người bị bào mòn, ngày càng nhiều hiện tượng vô cảm, thờ ơ trước số phận ngang trái, nỗi đau của con người; sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, tư tưởng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân...
[...]

Minh Hải





Thứ Năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016

Một đứa con đã khôn ngoan


Đọc sách



Một đứa con đã khôn ngoan


Giới thiệu

Trong truyện Một đứa con đã khôn ngoan, nhà văn giáo dục trẻ em đức tính yêu lấy tiếng Việt. "Ta có tiếng nói riêng. Bổn phận ta là phải giữ lấy tiếng ta, vì tiếng ta tức là tinh thần nước ta". Cậu bé Chỉ trong truyện này chỉ mê tiếng Pháp và cho rằng tiếng Việt không đủ để diễn tả hết mọi suy nghĩ và sự vật. Ngay cả lúc viết thư cho bạn, cậu cũng phải dùng thêm tiếng Pháp. Cậu (bố) của cậu bé Chỉ không đồng ý và phân tích cho cậu rằng: "Con thấy thiếu chứ tiếng ta không thiếu. Nếu thiếu chăng, thì nó thiếu ở ý mới, vật mới xưa kia không có. Còn những ý cũ vật cũ thì tiếng nước ta vẫn đủ như thường. Xem ngay như về gia đình, ta có biết bao nhiêu tiếng: kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, chắt, chút, bác, cậu, mợ, dì, cô, thím, âu yếm, thân, hiếu, đễ, từ và biết bao nhiêu tiếng nữa. Lại nói như cách mang đồ đạc, ta có đội, gánh, xách, vác, cầm, khênh, ôm, cõng, bẽ, tải, cắp, khuân, bế, mỗi tiếng một nghĩa riêng""Cậu dám đánh cược với ông cử, ông nghè Tây dùng tiếng Pháp mà dịch nổi tiếng "lôi thôi" của ta đấy". Dù được phân tích thấu đáo như thế nhưng cậu bé Chỉ vẫn không tin. Và cậu chỉ thật sự tin khi mợ (mẹ) của cậu bị ốm và nhờ cậu đọc giùm tiểu thuyết tiếng Việt. Cậu bất ngờ là không ngờ nó lại hay đến thế! "Truyện Tây cũng đến thế là cùng". Thật bùi ngùi khi đọc lại những lời của người mẹ nói với con: "Mợ mua sách Quốc văn, được sách hay đã đành, dù phải sách dở mợ cũng vui lòng. Mình không có tài làm cho Quốc văn hay đẹp hơn lên, thì phải có chút khuyến khích những người có công quý hóa ấy vậy".




Tác giả: Nguyễn Công Hoan.
Nhà xuất bản: Trẻ (01/1998)
Định dạng: Ebook
Kích thước: 2,52 MB (PDF)
Ngày phát hành: 01/1998
Số trang: 217
Ebook: 14.900 đ



Đọc thử trích đoạn

Thứ Tư, ngày 22 tháng 6 năm 2016

Một lần nói… ngắn


Một lần nói… ngắn

CHUYỆN VUI VỀ NHÀ THƠ KHƯƠNG HỮU DỤNG

CANH TIẾN (Theo Tường Duy)

Trong đời thường già Khương hay nói dài, nói dai nhưng trái lại có lần trên diễn đàn cụ lại nói ngắn. Một lần nhà thơ Khương Hữu Dụng cùng nhà văn Nguyễn Công Hoan sang thăm Liên Xô, khi được Đài phát thanh Mátxcơva mời phát biểu, trong khi cụ Hoan phát biểu khá dài thì cụ Dụng lại nói... ngắn. Vì nói ngắn nên nhuận bút Đài trả cho cụ ít hơn cụ Hoan.

Vốn sẵn tài trào phúng, Nguyễn Công Hoan đã làm mấy câu thơ "trêu" già Khương như sau:

Mang tiếng xưa nay vẫn nói dài
Cớ sao lại nói ngắn trên đài?
Mới hay dài ngắn là may rủi!
Được mấy đồng thôi phí cả tài


CANH TIẾN
(Theo Tường Duy)


Chủ Nhật, ngày 19 tháng 6 năm 2016

Hỏi chuyện các nhà văn

Đọc sách


Hỏi chuyện các nhà văn


Giới thiệu

Cuốn sách ghi lại những cuộc trao đổi rất thú vị của nhà văn Nguyễn Công Hoan - một bậc thầy của văn xuôi Việt Nam hiện đại với 6 nhà văn hàng đầu cùng thời với ông - Nguyễn Đình Thi, Chu Văn, Bùi Hiển, Tô Hoài, Tú Mỡ, Tế Hanh - về kinh nghiệm viết văn, nghệ thuật thơ, về sự giàu có và vẻ đẹp tuyệt vời của Tiếng Việt...

Bằng lối viết chân thực, giản dị, giàu chất u-mua, tác giả đã biến những vấn đề lý luận khô khan thành những câu chuyện dễ hiểu, hài hước mà sâu sắc như đọc chính những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan vậy.



Tác giả: Nguyễn Công Hoan.
Nhà xuất bản: NXB Kim Đồng
Nhà phát hành: NXB Kim Đồng
Mã Sản phẩm: 8935036610652
Khối lượng: 220.00 gam

Định dạng: Bìa mềm
Kích thước: 12.5 x 20.5 cm
Ngày phát hành: 04/2009
Số trang: 252



Đọc thử trích đoạn

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 6 năm 2016

Tô Hoài và những người thầy văn chương


Kỷ niệm một năm nhà văn Tô Hoài ra đi:
Tô Hoài và những người thầy văn chương

Hợp tác cùng Thời Nay


Nhận xét về Tô Hoài, Vũ Ngọc Phan khẳng định: “Tiểu thuyết của Tô Hoài cũng thuộc loại tả chân như của Nguyễn Công Hoan, nhưng Nguyễn Công Hoan ngả về hoạt kê, còn Tô Hoài có khuynh hướng xã hội".

Nhà văn Tô Hoài

Thứ Sáu, ngày 10 tháng 6 năm 2016

Trích từ bài "Ông thần ngông Tản Đà qua giai thoại" của TS. Nguyễn Xuân Lạc


2. Tản Đà với các bạn văn chương

TS. Nguyễn Xuân Lạc


Tản Đà có nhiều bạn văn chương. Bạn cùng lứa như Ngô Tất Tố sinh năm 1892, chỉ kém ông ba tuổi; bạn vong niên kém ông mười đến hai mươi tuổi như Tú Mỡ (sinh năm 1900); Nguyễn Công Hoan (1903); Nguyễn Tuân (1910),... nhưng tất cả đều là những người bạn tri âm tri kỉ của Tản Đà, được ông dìu dắt, giúp đỡ trên con đường văn nghiệp và để lại nhiều giai thoại thú vị trong “làng văn” những thập niên đầu thế kỷ XX. Tất cả ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của Tản Đà, có những người chịu ảnh hưởng khá sâu sắc như Nguyễn Tuân.

Nguyễn Công Hoan biết Tản Đà năm 1916 khi mới là cậu bé 13 tuổi, nhưng đã lọt vào “mắt xanh” của nhà thơ. Có lần Tản Đà xoa đầu Hoan và nói: “Cậu bé này thông minh lanh lợi lắm. Tôi đoán chắc sau cậu bé sẽ trở thành một nhân tài”. Có thể nói, Nguyễn Công Hoan đến với văn học bắt đầu từ Tản Đà, đi vào đời văn cũng từ Tản Đà. Chính Tản Đà là người đã mở mục “Việt Nam nhị thập thế kỉ, xã hội ba đào kí” trên An Nam tạp chí và khuyến khích Hoan viết cho mục này theo lối văn hiện thực phê phán mà hồi đó gọi là văn tả chân.


Từ đây, ngòi bút hiện thực của Nguyễn Công Hoan mới dần dần được khẳng định, và mấy chữ “ba đào kí” đã trở thành tên gọi để chỉ truyện Nguyễn Công Hoan, như Hai thằng khốn nạn, Ván cách, Ngựa người và người ngựa, Răng con vật nhà tư bản, Bố anh ấy chết, v.v. Riêng truyện Ngựa người và người ngựa, có một giai thoại thú vị giữa nhà thơ và nhà văn. Lần đó, Tản Đà về thăm ông anh vợ ở phố Hàng Bông, sau nhà là phố Phủ Doãn (Hà Nội). Một đêm Tản Đà ra sân thượng, thấy một phu xe đòi tiền xe một gái giang hồ, cô này không có tiền trả, mới nói: “Tôi đây, anh muốn làm gì thì làm!”. Tản Đà kể lại câu chuyện cho Hoan nghe và gợi ý để Hoan viết thành Ngựa người và người ngựa. Truyện Chữ trinh của Hoan được Tản Đà khen, nhưng góp ý sửa lại và thay tên Chữ trinh bằng tên Oẳn tà roằn. Còn khi Tản Đà đọc bài thơ Thề non nước cho Hoan nghe thì nhà văn đã sửa câu “Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày” thành “Suối khô dòng lệ...”. Những chuyện thân mật như thế giữa đôi bạn văn chương có rất nhiều mà trên đây chỉ là vài giai thoại tiêu biểu.



Thứ Ba, ngày 05 tháng 4 năm 2016

Hồi ức về nhà văn Nguyễn Công Hoan


Ba chữ "Nguyễn Công Hoan" đã đi vào ký ức tôi từ hồi nhỏ. Ngày còn là học sinh cấp I, bọn chúng tôi đã truyền nhau đọc cuốn Tấm lòng vàng. Sách nhàu nát, tả tơi, thiếu hàng mấy trang, mò từng đoạn chữ, nhưng tôi vẫn rất thích và cứ tưởng tượng ông Nguyễn Công Hoan là thầy giáo Chính, người đã giúp anh học trò nghèo, tên là Đức, mỗi tháng ba đồng để anh này học thành tài.

Thứ Hai, ngày 04 tháng 4 năm 2016

Nhà văn Nguyễn Công Hoan niên biểu và tác phẩm


NGUYỄN CÔNG HOAN CÂY BÚT HIỆN THỰC XUẤT SẮC
Phần II: Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan - Những thành công và đóng góp.

NHÀ VĂN NGUYỄN CÔNG HOAN, NIÊN BIỂU VÀ TÁC PHẨM



  1. Ngày sinh: 6-3-1903 (8-2 năm Quý Mão). Quê quán: làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng.
  2. Cha là Nguyễn Đạo Khang, đỗ tú tài khoa Canh Tý (1900), làm huấn đạo (tức nghề dạy học) cho đến khi mất.
    Mẹ là Tô Thị Tám, làm ruộng.
    Bà nội dòng dõi nhà nho, thuộc lòng nhiều sách như Kiều, Nhị độ mai, thơ Đường. (Dịch giả tập thơ Đường: Thiên thai, là ông Đặng Tích Trù, em ruột bà). Bà làm nghề dệt vải.
  3. Gia tộc họ Nguyễn, nhiều đời có người thi đỗ cao, được ghi tạc trên tấm bia thân thế sự trạng họ Nguyễn để ở Xuân Cầu.
    • Cụ Nguyễn Hằng, đỗ tiến sĩ năm 29 tuổi, khoa Bính Tuất, niên hiệu Quang Hưng 9, (Mạc Đoan Thái thứ nhất - 1586), làm quan đến chức Tham chính.
    • Cụ Nguyễn Tính, đỗ tiến sĩ năm 30 tuổi, khoa Canh Thìn, niên hiệu Dương Hòa 6(1640), làm tới Lễ bộ hữu thị Lang Nghĩa quận công. Hiện còn văn bia dựng tại Quốc Tử Giám, Hà Nội.
    • Cụ Nguyễn Hành, đỗ tiến sĩ năm 33 tuổi, khoa Mậu Thìn, niên hiệu Chính Hòa 9 (1688), có đi sứ, làm quan đến lại bộ tả thị lang Tước tử. Hiện còn văn bia dựng tại Quốc Tử Giám, Hà Nội.
    • Cụ Nguyễn Gia Cát, đỗ tiến sĩ khoa Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống nguyên niên (1787).