Ads 468x60px

.

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Nghĩ người ăn gió nằm mưa

Nghe đọc tại YouTube - Người đọc: Hồng Ngọc



Nghĩ người ăn gió nằm mưa

Nguyễn Công Hoan


Viết để tiễn cô giáo Minh

Truyện này tôi viết đề tiễn cô giáo Minh, vì từ tháng Năm, chúng ta đã chẳng thấy nàng ở gần chúng ta nữa.
Mà sở dĩ tôi chép thiên này riêng ra tuy nó cũng là truyện Cô giáo Minh vì nó không liên can gì với thuyết không đoạn tuyệt của nàng. Truyện này chỉ là một đoạn tình của nàng với Nhã.
Hẳn độc giả các ngài chưa quên cái thư của Nhã viết cho Xuân, sau ngày Minh về nhà chồng, cái thư mà Minh đọc phải khóc, và bảo là "tiếng thở dài tha thiết của tấm ái tình tuyệt vọng, bài văn tế sống, thổ lộ ở tận đáy lòng của một người cay đắng vì yêu".
Cái thư ấy, tôi cần trích đăng lại, vì có nhiều chỗ dính dáng đến truyện này.
Em Xuân,
Mấy lần em viết thư trách anh độ này thưa lại thăm em hơn trước đó. Cái đó, anh xin chịu lỗi. Nhưng hẳn em thừa hiểu cái cớ ấy rồi.

Em ạ, anh muốn quên hẳn người ấy đi. Lại nhà em, anh sợ thỉnh thoảng lại gặp mặt người ấy, rồi hình dáng người ấy, tiếng nói câu cười của người ấy gợi cho anh biết bao nỗi đau lòng.
Đã ngót hai tháng nay, nghĩa là từ ngày người ấy cưới, anh không thể viết được một bài nào cho báo nữa. Anh như người mất trí. Cái tin người ấy cưới chẳng khác gì mũi tên độc nó giết chết linh hồn anh.

Em có biết đâu rằng mấy ngày mấy đêm, anh không ăn không ngủ được. Tràng pháo cưới trưa hôm ấy, nó tan xác bao nhiêu, thì ruột gan anh bị tan tành bấy nhiêu. Nào anh có muốn trông đâu cái đoàn ô-tô choáng lộn nó đưa người ấy về nhà chồng. Anh đã cố chạy vào nhà trong, nhắm mắt, bịt tai lại. Mà không hiểu làm sao, anh không thể kiên gan được mãi. Anh lại phải hé cửa ra nhìn. Thì thình lình cái xe kết hoa vừa đến trước mặt, làm anh rụng rời chân tay. Ai hay một đám cưới là một vụ giết người, mà mỗi trái tim của đàn bà là một con dao nhọn.

Em Xuân ạ! Cài thư báo hỷ người ấy viết cho anh, anh không rõ người ấy vô tình hay cố ý để bắt anh phải đau đớn. Anh lặng đi đến một phút, rồi ngắm nghía mấy dòng chữ đề phong bì đến hàng giờ. Than ôi! Cũng những nét bút mềm mại này, trước kia viết cho anh, thì anh được đọc biết bao nhiêu chuyện vui vẻ, làm anh quên cái đời sầu khổ. Mà đến bây giờ, em ơi! Nó báo tin người ấy lấy chồng. Người anh yêu lấy chồng! Khốn nạn thân anh!
Thôi, thế là xong, Minh lấy chồng mất rồi, anh còn hy vọng gì nữa.
Anh không ngờ đâu, trong ít lâu nay, tạo hoá đối với anh quá nghiệt. Đầu tháng Năm, Mai phải đi xa. Cuối tháng Sáu, Tuyết chết. Đến nay Minh đi lấy chồng! Thì dẫu có gan sắt đá, mà ở vào cảnh quạnh hiu của buổi chợ đời chiều hôm, anh tưởng cũng héo hon, khô đét.

Anh không hiểu người ấy có biết anh thực bụng yêu người ấy hay không. Đành rằng người ấy hẳn là biết anh yêu, những người ấy có biết anh đã xây đắp biết bao hy vọng với người ấy không? Anh xin thú thực với em rằng, người ấy và anh chưa hề nói hoặc viết cho nhau những tiếng “yêu”. Ái tình, anh muốn nó kín đáo. Anh muốn hưởng ái tình bằng trí tưởng tượng hơn rằng đem mà phô diễn nó ra. Bởi vì ai có thể phô diễn được hết cái ái tình chân thật bao giờ. Chỉ có những tiếng vô hình ấy ở tận đáy lòng mới đủ nghĩa để mô tả tấm ái tình man mác. Vì vậy người ấy với anh đã yêu nhau ngấm ngầm, mà cái ái tình ngấm ngầm, anh thấy một đôi khi nó có sức quá mạnh. Thật vậy, cứ đoán ý tứ của những câu vụn vặt người ấy viết cho anh, cứ ngắm nghía vài thứ, tự tay người ấy làm để kỷ niệm cho anh mà bấy lâu anh vẫn bày trên bàn giấy, thì anh tưởng còn có nghĩa lý bằng mấy ngàn mấy vạn bài thơ vô vị của những nhà thi sĩ có biệt tài!
Than ôi! Ba năm ấy đến nay thành giấc mộng. Viết đến đây, anh lại thấy anh đàn bà mất rồi! Những giọt nước mắt rất quý của anh, anh chỉ rỏ ra để vĩnh biệt những người thân thích, mà nay sao nó chảy ra dễ dàng! Anh xin lỗi em mấy phút cảm động.

Em ạ! Người ấy lấy chồng một cách quá chóng. Từ hôm anh biết tin, đến lúc nghe tiếng pháo, tính ra vừa vặn có bốn hôm. Nếu người ấy được tấm chồng tử tế, thì anh cũng mừng, song, hỏi thăm ra, anh lại thấy nói người chồng ấy có nhiều chỗ rất đáng phàn nàn, mà nhà chồng thì lại là một nhà cổ. Anh thương hại Minh của anh ê chề. Viết đến đây, anh ngừng bút lại để ngẫm nghĩ. Kìa, cái nét mặt vui tươi, cái miệng lúc nào cũng sẵn một nụ cười thẳng thắn, cái mái tóc mây, cái tay ngọc ngà mà người ấy vẫn tự nhận, vẫn còn rõ rệt ở trước mắt anh.
Nhưng mà, giá nét mặt ấy cứ vui tươi mãi, miệng ấy cứ cười nụ mãi, tóc ấy và tay ấy vẫn cứ có vẻ thần tiên mãi, thì anh rất hả lòng. Khốn nỗi, chồng con như thế, anh đây nào có thể ích kỷ mà không xót xa thay.
Anh cần phải thở dài một tiếng rõ to để trút hết những nỗi uất ức. Thì ra người ấy với anh không lấy được nhau, thật là oan. Nào ngờ đâu, tháng ngày vui có đến đây là hết. Nào ngờ đâu, đời anh, anh chỉ sống được có ba năm! Song, anh còn có thể tự hào để an ủi, là trong ba năm ấy, anh đã được hưởng hạnh phúc ba mươi năm của đời một người khác.

Nhưng mà than ôi, thà rằng chẳng biết cho xong... Chứ biết nhau để phải chịu nỗi xa lìa, thì anh cho là làm người, có một trái tim dễ cảm, là một cái tội.
Anh mong quên người ấy đi mà thật không thể được. Anh đã tập cho thành thói quen, nhưng ngậm đắng nuốt cay một mình, kết cục anh phải mang bệnh. Trước kia, khi người ấy mới cưới, chẳng tối nào anh không qua nhà người ấy một lần. Thấy cửa đóng im ỉm, anh lắng tai nghe. Vậy mà anh cũng sung sướng như lại được gần gũi người ấy. Anh thấy như được sống lại những ngày vui xưa. Nhưng mà mỗi lần anh ôn lại cuộc ân tình tuyệt vọng như thế, thì về nhà, anh nằm gí trên giường, không thể làm gì được nữa. Nhưng rồi sau anh sợ, chợt người ấy gặp anh mà như nhắc lại chuyện cũ, nên anh không vơ vẩn nữa, rồi cả đến những buổi đi làm, anh cũng quyết không qua nhà người ấy. Trông thấy nhau làm gì! Để cho cái ái tình nó vật lộn với người đàn ông, còn hơn để nó giết người đàn bà, em ạ.
Anh đến ở nhà mới này mới có hơn hai tháng, những tưởng phố đông đường rộng, thì anh vui mắt để làm việc được nhiều, chứ anh có biết đâu rằng anh bị thấy những cảnh khổ não, là cảnh người ấy lấy chồng. Thật là ông trời éo le, bắt anh phải cực nhục. Hay ông ấy muốn đày đọa anh, cho anh hiểu biết vị cay đắng của ái tình. Thà rằng anh cứ ở nhà cũ thì anh khỏi thấy gai mắt, thà rằng anh chẳng làm giấy cam đoan với chủ nhà, thì quyết dọn phắt đi đến hẳn một nơi hẻo lánh; thà rằng anh chẳng vướng víu công việc, thì anh chẳng ngại gì mà chẳng lên chỗ rừng xanh núi đỏ, làm bạn với trăng, với gió, với khe nước, với cỏ cây, để ôn lại những tháng ngày vui vầy. Nhưng mà anh đã trót sa chân lỡ bước, thì âu là anh chỉ âm thầm đành lòng mà đón những cảnh đoạn trường.

Mấy lần cuối anh gặp người ấy, không phải những lúc anh tiện tỏ tình, vả anh cũng có ý muốn tránh. Nhưng bốn con mắt cứ thỉnh thoảng vô tình gặp nhau luôn, song là những con mắt của đội trinh thám đi dò ý tứ nhau mà thôi.
Từ nay mà đi, không biết anh có viết được nữa không. Bệnh anh tất càng ngày càng nặng. Anh chỉ biết rằng bỏ cán bút lâu, thì cầm nó khí ngại. Nhưng nếu có phải duyên văn đứt thật, thì cũng là một sự kỷ niệm êm đềm trong đời văn chương của anh, vì nó đánh một dấu rõ rệt là anh đã mất một người khuyến khích.

Nguyên ngày Minh mới đỗ ở trường Nữ sư phạm thì Nhã tuy đã viết báo Tuổi trẻ nhưng không ở hẳn lên toà soạn Hà Nội, mà ở Yên Bái là nhà một người họ. Minh làm đơn xin bổ giáo học, theo lệ được chọn ba nơi, đáng lẽ yêu cầu ở Hà Nội và hai nơi nữa gần Hà Nội mới phải, vì nàng sẽ được gần mẹ. Nhưng mà không, Minh lại xin đi Yên Bái, mà chỉ một tỉnh Yên Bái thôi, lấy cớ rằng nàng thích ở mạn ngược. Nàng không dám ngỏ cho ai biết điều ước nguyện bí mật ấy. Nhưng rồi sau, có người bạn thân của Nhã làm ở Sở học chính nói chuyện ấy với Nhã, Nhã sung sướng quá đến nỗi rơm rớm nước mắt, rồi chàng xuống Hà Nội, để cảm tạ tấm lòng của Minh. Song Minh vui sướng thẹn thò, chối:
- Không, có lẽ người ta lầm với chị Minh Hoàng đấy chứ!
Thấy tính tình Minh kín đáo, Nhã mỉm cười, cảm động nhìn nàng, rồi lảng sang chuyện khác.
Nhưng không may, trời chẳng chiều người, Minh không được về Yên Bái mà lại phải bổ lên Tuyên Quang.
Rồi đó, người Tuyên Quang kẻ Yên Bái, tuy quan hà nhưng gang tấc, thư đi từ lại, vẩn vơ than sớm khóc chiều hôm.
Ở Tuyên Quang nửa năm, Minh không sao chịu nổi cảnh quạnh hiu ở nơi đất khách, nàng bèn xin đổi về Hà Nội.
Độc giả các ngài hẳn cũng còn nhớ bận Minh đi Hải Phòng khánh thành Dạ lữ viện, gặp Nhã ở ga Hải Dương lên. Hai người nói chuyện với nhau được vài câu thì sực Nhã trông về phía tay trái một ngọn đồi xanh cao nhất, trên có lờ mờ một ngôi đền trắng. Nhã mỉm cười đau đớn, chàng nhìn ra ngoài, hỏi vẩn vơ:
- Cái quả núi cao kia, tên là gì nhỉ?
- Đó là núi Yên Phụ.
Nhã gật gù:
- Đẹp nhỉ, những rặng núi đá lô nhô kia mới thần tình làm sao!
Nhã hỏi Minh câu đó, nào có phải chàng quên tên núi, và chàng quên sao được cái kỷ niệm êm đềm với Minh! Chàng hỏi thế, chẳng qua muốn nhắc Minh nhớ lại những ngày vui nó qua như giấc mộng, và để bắt người con gái đã có chồng, hồi tưởng đến cuộc đi chơi ngày trước của nàng với mình.
Vào khoảng cuối thu một năm trước, Nhã đã cùng Minh rủ nhau lên chơi núi Yên Phụ.
Hôm ấy, trời vừa mưa vừa bão, nhưng vì đã trót hò hẹn từ trước, nên cả hai người không ai nỡ phụ lòng nhau.
Mình đi xe kéo, Nhã đi xe đạp, suốt từ sáng đến độ mười giờ trưa thì tới chân đèo. Hai người phải đi bộ trèo dốc dài chừng hai cây số. Rồi đứng trên cao, đôi bạn đưa mắt nhìn xuống, thấy dưới chân, bao la man mác, cảnh vật đậm những gió táp mưa sa. Nhã âu yếm nhìn Minh, mỉm cười, nói:
- Chỉ riêng cô với tôi mới được hưởng cảnh thần tiên, xa những nơi tranh cạnh nhỏ nhen, khốn nạn. Cô có thấy mệt không?
Minh cũng cười, đáp:
- Vui thì thấy mệt sao được. Có vất vả, nhọc nhằn mới nhớ lâu. Non Bồng nước Nhược, âu cũng thế này mà thôi, anh ạ.
- Từ thuở bé, mà có lẽ từ nay về sau, tôi không được đi chơi một cuộc nào thú như thế này nữa.
- Em cũng vậy.
Mơ màng một lát, Nhã nói:
- Bởi vì lần này là lần đầu, cô với tôi được đi chơi phong cảnh với nhau, vả chúng ta chỉ là đôi bạn.
Minh hiểu ý, thở dài, lăm đăm con mắt nhìn ra chỗ xa xa mù mịt. Lúc ấy mưa đã ngớt, gió đã yên. Ánh nắng vàng dát trên thảm núi biếc, lơ thơ mấy bụi cây xanh rờn. Con sông uốn éo khúc mình, nhẹ nhàng đưa chiếc thuyền buồm nâu sẫm.
Hết chuyện tình tứ, đến chuyện văn chương, Minh nói:
- Bài từ khúc anh làm ngày độ đầu hè, thế nào nhỉ, anh thử đọc lại em nghe.
Nhã mỉm cười, bảo Minh ngồi xuống mỏm đá, rồi đọc:

Khắc khoải tiếng quyên trong bụi,
Lập loè lửa lựu đầu tường,
Án sách lơ thơ,
Phòng văn hiu hắt,
Song hồ lọt bóng tà dương,
Biện Hoà luống những thương cho kiếp,
Tưởng kiếp văn chương cũng đoạn trường,
Lệ riêng hoài, ai thương?
Trận gió quạt cơn u uất,
Gót sen động giấc mơ màng,
Tan mác hồn xưa,
Bồi hồi mộng cũ,
Ruột tằm đòi đoạn tơ vương.
Giật mình e thẹn cùng văn tự,
Gánh nặng, đường xa, ác ngậm ương,
Trân trọng tấm can trường
.

Nhã đọc xong, Minh phá ra cười, hỏi nhạo:
- Anh thấy bài ấy hay ở chỗ nào?
Nhã đùa:
- Nó hay ở chỗ tôi làm để cảm ơn cô.
Minh lắc đầu, dịu dàng nhìn Nhã:
- Nhiều câu sáo quá. Thành ra anh nhận vơ những câu của người khác, em có bằng lòng cho anh làm thơ đâu. Những câu đó không có giá trị gì. Nó chỉ kêu mà không có nghĩa. Anh phải diễn những ý riêng bằng giọng văn riêng của anh mới được.
Nhã cãi:
- Cô lay tỉnh tôi giữa lúc tôi mơ màng, tôi sực nhớ đến kiếp văn của tôi còn có người tri kỷ, thì âu là tôi cảm ơn cô và đoan xin tận tụy với nghệ thuật, để tạ lại lòng cô. Chẳng rõ nghĩa thế là gì?
Mình lắc đầu, buồn rầu, đáp:
- Em cũng hiểu thế. Nhưng anh nên để cái tâm hồn thi sĩ, để cái văn tài của anh lên trên những cái mơ mộng hão huyền. Em muốn khuyên anh nên đặt văn chương vào sự nghiệp.
Nhã giật mình thở dài. Minh nói tiếp:
- Rồi đây, em mong được cái hân hạnh là người độc giả thứ nhất của anh. Làm được tài nào, anh cứ gửi cho em xem trước. Nhưng điều em cấm anh, là anh không được làm thơ.
Em xin tập làm thơ để thay anh cũng thế.
Nhã sung sướng. Bồi hồi, chàng cảm động mỉm cười với Minh.
Rồi hai người say vì cảnh đẹp, mải vì chuyện vui, đến nỗi quên cả thì giờ, mãi đến hai giờ chiều mới nhớ đến ăn uống, và đến bốn giờ mới ra ga, đáp xe lửa về Hà Nội.
Dần dà, cuộc ái tình của Nhã và Minh cứ ngấm ngầm mà khăng khít, mặc cho xuân tàn, thu tạ, tin hồng bay tới cánh tem đi về.
Rồi khi Minh viết thư than thở với Nhã rằng mẹ nàng thụ bệnh; mà có lẽ bệnh nặng. Nhã muốn an ủi Minh, bèn nhất quyết bỏ đi nơi non cao rừng rậm đầy những thi vị đậm đà, để xuống ở hẳn dưới Hà Nội. Vả nhân để đáp lại cái cảm tình đằm thắm của Minh ngày trước, Nhã bèn thuê nhà ở phố Hàng Gai.
Nhưng than ôi, nào hay tháng ngày qua, chẳng thương cuộc vui vầy của đôi bạn trẻ.
Nhã ở nhà mới này được hai trăng có lẻ thì tiếp cái giấy báo hỉ, cái tin mừng rỡ của Minh làm cho Nhã phải đau đớn, ruột gan tan tành.

Sau cuộc chia rẽ của ái tình, Nhã không gặp Minh nữa. Chàng đau đớn quá thành ốm và theo lời thầy thuốc, chàng cần phải nghỉ việc ít lâu, tìm một nơi mát mẻ để tĩnh dưỡng tinh thần. Vì vậy, Nhã lên ở trên Tam Đảo.
Nhưng gọi là ở Tam Đảo, có phải Nhã được sống trong một tòa lâu đài lộng lẫy nào của cái xã hội trượng giả đâu. Chàng ở nhờ cái nhà tranh tiều tụy trong xóm "Trại con gái".
Mà vì không viết được nhiều nữa, nên chàng sống một cách rất thiếu thốn.
Thỉnh thoảng buồn, chàng lững thững đi bộ lên phố, thơ thẩn ngồi phệt trên thảm cỏ, cạnh cái cầu con mảnh dẻ sơn đỏ, bắc qua hai bên bờ xanh rì của dòng suối bạc phau phau.
Man mác, chàng ngắm cái cảnh vật xung quanh lờ mờ như ẩn như hiện, rồi so sánh với cuộc chơi Yên Phụ hồi nào, thấy bồng lai bây giờ nó quạnh hiu, buồn tẻ lạ.
Hôm Minh toan đoạn tuyệt với gia đình cũ, mà Nhã không gặp, chàng bèn đến nhà một người bạn là hoạ sĩ, để nhờ vẽ một bức tả theo ý mình. Bức vẽ ấy, là phong cảnh vùng Yên Phụ, tơi tả trong gió táp mưa sa. Phía xa, một trái đồi cao chót vót, trên đỉnh có một nếp đền trắng xóa, xung quanh là dãy gò đất thấp lô nhô chạy dài, và rặng núi đá cằn, sừng sững soi gương trên mặt làn nước xanh ngắt. Phía gần, trên bãi cỏ vàng, một người thiếu phụ ngồi chống nẹ tay trái xuống đất, hai chân duỗi thẳng. Người thiếu phụ ấy, tức là vai chính của bức họa, Nhã nhờ bạn vẽ đằng lưng, vì người ấy quay mặt vào trong, lăm đăm mơ màng nhìn về phía Yên Phụ. Người thiếu phụ ấy, Nhã dặn kỹ bạn, là một người độ hai mươi ba tuổi, mình bầu bĩnh, gò má hơi cao một chút, và tóc thì quấn, nhưng không quấn õng ẹo lối tân thời.
Nhã cho chỉ có bức vẽ ấy mới an ủi nổi chàng, vì lúc nào chàng cũng được thấy người yêu tưởng nhớ đến cảnh cũ, tình xưa.
Khi bức hoạ ấy xong, Nhã rất vui sướng, vì nó được y như ý nguyện, chàng cầm bút, đề ba câu Kiều lẩy mà chàng cho là rất ý nhị:
Nghĩ người ăn gió nằm mưa,
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng!
Duyên em dù nối chỉ hồng,
Rồi Nhã bình phục, và lại về Hà Nội. Xuân đến thăm anh họ, nàng ngắm bức vẽ ấy, thì hiểu ý. Thương hại Nhã, nàng hỏi vờ:
- Anh có chắc người thật, có còn như người vẽ, và có nghĩ những câu anh nghĩ hộ người ấy không?
Nhã thở dài mỉm cười chua chát, đáp:
- Con người ta nếu không có trí tưởng tượng để an ủi thì sao có thể quên được những nỗi đau lòng. Nếu anh chắc người ấy còn như cũ, thì anh mượn vẽ tranh này làm gì!
Sắp đến giờ khánh thành Dạ lữ viện. Hai hè phố An Dương chật ních những người.
Trong mỗi cái ô-tô sình sịch đi tới, người ta lại thấy những áo gấm đủ các mầu, những mề đay đủ các hạng. Trên tường tòa Dạ lữ viện kiến trúc giản dị, ngọn cờ Pháp - Việt đề huề bay phấp phới. Mấy người cảnh sát tây, nam, trịnh trọng đi đi lại lại để giữ trật tự. Đồng hồ càng chỉ gần bốn giờ bao nhiêu, làn sóng người càng dồn dập bấy nhiêu, mà cảnh sát càng phải ra công để dẹp, để đuổi, những người xem đứng tràn xuống đường.
Trong khi ai nấy đều sợ sệt cái roi mây của các nhà chuyên trách, thì Nhã đi bộ đến, và định qua đường. Bỗng có người nắm lấy chàng, nói:
- Chớ, ông chớ sang, đội xếp họ không cho đi đâu.
Nhã nghe lời, mỉm cười quay gót lại, nhã nhặn đáp:
- Cảm ơn ông có lòng tốt.
- Ông nên đi quá ra đằng kia rồi hãy qua đường...
Nhã nhìn đồng hồ, vừa lẩm bẩm vừa đi:
- Gần đến giờ rồi.
Nhưng tò mò chàng đứng dừng, nói:
- Ở đây canh phòng nghiêm ngặt nhỉ?
Người lạ mặt đáp:
- Phải, vừa đây, người đội xếp kia mới xử bất nhã với một người đàn bà có giấy viện mời đến dự cuộc khánh thành.
Nhã cau mặt:
- Xử bất nhã với một người đàn bà?
Một người bên cạnh nói:
- Phải, mà cái bà ấy nào phải quê mùa gì như chúng tôi.
Một người nữa khôi hài:
- Giá bà ấy mặc áo gấm thì không đến nỗi.
Lại một người nữa nói:
- Không, đó là đội xếp người ta lầm.
- Lầm gì đâu! Thế ông không nghe bà ta cãi lý thế nào à? Bà ấy bảo bà ấy có giấy mời, và đưa cả giấy ra, thế mà đội xếp cũng ẩy bà ta một cái. Nếu không có bà cụ béo ở trong kia thét vang lên, xem có xảy ra sự xô xát to rồi không?
Nhã ngờ ngợ, hỏi:
- Bà cụ béo ấy là bà nào vậy?
- Là bà tuần Mai, mà hình như người đàn bà này là con dâu thì phải, chúng tôi thấy gọi là mợ cả.
Nhã giật mình, hỏi dồn:
- Người đàn bà ấy cao độ bằng ngần này, đi giầy đỏ, răng trắng?
- Phải.
Nhã thở dài, rất thương hại Minh và căm giận người đội xếp. Chàng bồn chồn cả tâm trí, hỏi:
- Các ông thấy chuyện đầu đuôi thế nào?
- Người đàn bà ấy cũng như ông, muốn sang bên kia đường. Vừa bước được vài bước, thì người đội xếp kia hùng hổ chạy lại ngăn. Người đàn bà dịu dàng nói và đưa giấy ra, thế mà cũng bị ẩy một cách tàn nhẫn, đến nỗi xuýt ngã. May ở trong viên có bà cụ và mấy ông ra can thiệp, người đội xếp mới để cho đi.
Nhã tức giận, trừng trừng nhìn người đội xếp. Chàng không hiểu sao Minh không đi xe ô-tô với bà Tuần? Đã vậy chàng nhất quyết đi ngang phố qua trước mặt người cảnh sát ấy để thử xem người ấy có dám xử bất nhã cả với chàng, hay chỉ dám bắt nạt đàn bà yếu ớt.
Chàng đi, để ngộ có phải người đội xếp giở lối dã man, thì Minh của chàng được nhẹ bớt nỗi nhục nhã, vì cũng còn có người nữa gặp cảnh nhục nhã như Minh. Chàng đi, để an ủi Minh một cách xa xôi cao thượng.
Nhã hăm hở rẽ mọi người, lễ phép nói:
- Được, các ông cứ để tôi đi.
Nói đoạn, nhác trông lên thềm viện, Nhã thấy Minh đứng ủ rũ, mắt đỏ hoe nhìn chàng, mà không biết nhìn từ bao giờ. Có lẽ nàng cũng hiểu Nhã biết chuyện xảy ra vừa rồi, nàng trỏ tay chỉ người đội xếp khi nãy, có ý khuyên chàng tránh đừng qua chỗ ấy.
Song, cái dáng bộ của Minh lại càng khuyến khích giục Nhã cứ làm theo ý đã định.
Chàng vừa bước chân xuống đường, thì quả nhiên người đội xếp ấy chạy vội lại, dang hai tay ra chắn.
Nhã mỉm cười, móc túi lấy giấy mời ra, nhưng người đội xếp bĩu môi xua:
- Không được. Ông không qua đây được.
Nhã khinh bỉ, gạt tay người kia, cứ sấn đến. Nhưng Nhã bị người đội xếp giật ngay tay, và trợn mắt, sừng sộ:
- Tôi có phép cấm ông.
Mọi người xôn xao, ồ cả lại xem Nhã hung hăng nói:
- Nhưng ông phải hiểu tôi không qua đây đề đùa bỡn cùng ông.
- Phải, nếu ông đùa bỡn, thì tôi đã mời ông lên Cẩm.
- Thế có thực ông ngăn tôi không?
- Thực, ông tưởng tôi sợ ông vì ông mặc quần áo tây hẳn. Ông làm nhà báo, tôi cũng không cần.
Nhã cười chua chát. Không đáp, chàng đẩy mạnh người đội xếp ra. Thế là hai bên dằng co nhau. Cuộc xô xát suýt thành to, nếu không có nhiều người can thiệp, và nhất là không có bà Tuần và vài người trong ban trị sự ra giảng giải cho người đội xếp nghe.
Nhã vào viện, nét mặt tím bầm, hầm hầm kể lại đầu đuôi câu chuyện. Tuy Minh không nghe chàng, nhưng nàng thờ thẫn như người mất trí.
Trông thấy vậy chàng rất hởi lòng. Chàng đã hy sinh danh dự để chia sẻ nỗi đau đớn với người yêu.
Cuộc khánh thành Dạ lữ viện hôm ấy không được vui vẻ. Ai nấy đều căm giận người cảnh sát đã xử tàn nhẫn với một người đàn bà, và một người nhà báo. Cho nên sau bài diễn văn thường lệ, tiệc trà không được đậm đà. Người ta nói ít, mà chỉ nói khẽ, và toàn chuyện người cảnh sát. Không ai đả động gì đến việc viện cả. Nhất là Nhã, chàng ngồi cắm mặt, không uống, không ăn, mà cũng không để ý đến một việc gì.
Thấy bầu không khí nặng nề, một ông nghị viện già đứng lên, dõng dạc nói như diễn thuyết:
- Thưa các cụ thưa các quan, thưa các bà, thưa các ông, hôm nay là ngày viện ta khánh thành, các ngài nên vui vẻ lên một chút. Vậy hôm qua, tôi mới nghĩ được một bài thơ mừng viện, tôi đọc để nhờ các cụ, các quan, các bà, các ông, phủ chính hộ cho, tôi xin cảm ơn lắm lắm.
Rồi ông đọc một bài thơ tám câu, đọc một cách rất hứng thú.
Một tràng pháo tay nổi lên để hoan nghênh nhà thi sĩ. Nhã cũng đỡ buồn, chàng ngẩng đầu lên nhìn qua một lượt. Chàng thấy Minh đang loay hoay viết bút chì vào một mảnh giấy.
Ông nghị già ngồi xuống vui vẻ, cười rung cả tập mề-đay.
Bỗng ông lại đứng ngay lên, tay cầm mảnh giấy, thong thả nói:
- Thưa các cụ thưa các quan, thưa các bà, thưa các ông, ban nãy tôi đọc thơ của tôi, bây giờ tôi xin đọc thơ của người khác.
Tiếng cười rì rào nổi lên ở mé đầu bàn. Ông Nghị nói tiếp:
- Đây là thơ của bà Nguyễn Thu Minh...
Nhã ngẩng phắt mặt lên. Mọi người yên lặng quay đầu ngơ ngác tìm. Một cụ hỏi:
- Bà Nguyễn Thu Minh là ai?
Ngay lúc ấy, bà Tuần đứng dậy, cái khối thịt đồ sộ làm rạp cả hai bà ngồi cạnh. Bà híp mắt cười, trỏ vào Minh.
- Thưa Nguyễn Thu Minh đây, con dâu tôi, vợ nhà cả nhà tôi.
Nói đoạn, bà vênh váo trỏ Minh. Mấy trăm mắt đổ dồn cả lại, Minh hơi đỏ mặt. Một tràng vỗ tay ran dậy cả phòng. Riêng Nhã, chàng căm giận lạ thường. Chàng không ngờ Minh nuốt cái nhục chóng được đến thế. Chàng không ngờ chàng đã chịu một mình cái bực dọc ban nãy, mà chính chàng hứng lấy cái bực dọc, chỉ cốt cho Minh đỡ được một nửa gượng sàng. Chàng cúi gầm mặt xuống, nghiến răng, ù tai, rồi chàng cau đôi lông mi, nhìn Minh một cách khinh bỉ. Thấy Minh hớn hở, vui tươi, chàng run lên, những toan chạy lại sỉ vả cho bõ hờn con người vô sĩ.
Ông nghị già đằng hắng, rồi nói:
- Thưa các cụ, thưa các quan, thưa các bà, thưa các ông nghe ạ.
Người ta nói nhỏ khen với nhau:
- Thế mà còn ruột gan nghĩ ra thơ, giỏi thật!
Rồi ông nghị ê a vừa đọc vừa ngâm:
“Nghĩ người ăn gió nằm mưa”
Tiếng xì xào:
- Hay!
“Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng”.
Một hồi vỗ tay:
- Hay!
“Duyên em dù nối chỉ hồng, chấm, chấm, chấm, chấm”, bẩm hết ạ!
Nhã choáng người như tỉnh giấc mơ màng. Chàng thổn thức, vui sướng quá. Long lanh, chàng nhìn Minh mà văng vẳng bên tai, chàng thấy người ta bẻ:
- Câu cuối không dính gì đến viện, tôi chẳng hiểu sao cả!
Riêng Nhã hiểu. Chàng hiểu rằng nàng vẫn nhớ đến chàng. Chàng hiểu rằng nàng đã an ủi chàng, một cách xa xôi kín đáo. Buồn man mác chàng thở dài, hai mắt rưng rưng, giọt lệ như chỉ chực tuôn rào ra để tạ lòng người tri kỷ...



1936


0 comments:

Đăng nhận xét

[im]your image url..[/im]
[youtube]your video url..[/youtube]
[si="10"]your text[/si]
[co="red"]your text[/co]
〈div style=""〉 TEXT〈/div〉